Thứ Năm, 13 tháng 8, 2020

Sài Gòn chuyện đời của phố: Nhớ mãi chương trình Đố vui để học

 Giữa thập niên 1960, trên Đài truyền hình Sài Gòn có chương trình Đố vui để học được học sinh đô thị xem nhiều và rất say mê. Đến giờ, nhiều người ở lứa tuổi trên dưới 60 vẫn hào hứng khi được nghe nhắc lại chương trình này.

Quang cảnh buổi thu hình chương trình Đố vui để học cá nhân kỳ thứ 78 tại phim trường Đài truyền hình Sài Gòn /// Ảnh: Báo TGTD tập XVII số 12
Quang cảnh buổi thu hình chương trình Đố vui để học cá nhân kỳ thứ 78 tại phim trường Đài truyền hình Sài Gòn
ẢNH: BÁO TGTD TẬP XVII SỐ 12
Chương trình này bắt đầu phát năm 1966, do Trung tâm Học Liệu thuộc Bộ Giáo dục (miền Nam) thực hiện. Những người tham gia điều hành chương trình là: các thầy cô dạy trung học như Đinh Ngọc Mô (dạy Pháp văn, có biệt tài về kịch nghệ), Lê Thanh Hoàng Dân (Phó giám đốc Trường Quốc gia Sư phạm), Cao Thanh Tùng (dạy Việt văn), Huỳnh Kim Quế (đã qua một khóa huấn luyện về vô tuyến truyền hình tại Đài Loan) và các ông bà Nguyễn Văn Đồng, Huỳnh Độ, Nguyễn Tú Anh, Đặng Ngọc Hương, Dương Thủy Ngân.
Chương trình được mô phỏng tiết mục truyền hình của Mỹ Quiz Show và tiết mục Quitte ou double của Pháp, vừa có tính giải trí, vừa có tính giáo dục, tạo tinh thần thi đua học tập của học sinh, tập cho các em bình tĩnh, phản ứng nhanh, ăn nói mạnh dạn và lưu loát trước công chúng, khuyến khích các em ưu tú, tạo tinh thần học hỏi cho học sinh nói chung.
Ở giải cá nhân, học sinh nam hay nữ các lứa tuổi từ trung học trở xuống đều có thể ghi tên dự thi, có chứng minh bằng thẻ học sinh hay căn cước. Ban tổ chức ưu tiên cho học sinh các tỉnh xa, nhất là khi thí sinh được ban giám hiệu trường tiến cử đi thi. Mỗi thí sinh sẽ trả lời 9 câu hỏi từ dễ đến khó, thời gian cho mỗi câu là 30 giây. Tiền thưởng tăng từ thấp đến cao, từ câu đầu đến câu cuối, bắt đầu từ 5 đồng, sau đó gấp đôi ở câu sau cho đến khi trả lời cả 9 câu là 1.280 đồng.
Phần thi đồng đội là cuộc thi giữa hai trường khác nhau, cùng trình độ. Ví dụ đội của Trường cộng đồng Phú Vinh ở Vĩnh Bình (nay là Trà Vinh) với Trường cộng đồng Đồ Chiểu ở Gia Định. Mỗi đội gồm 3 thí sinh, có đội trưởng chịu trách nhiệm giới thiệu các bạn trong đội mình. Câu đố trong cuộc thi có 20 câu, mỗi câu 5 điểm nếu đáp trúng. Đáp được nửa câu hay một phần thì số điểm sẽ được ban giám khảo định. Câu hỏi vừa được đưa ra, đội nào bấm chuông trước được trả lời nhưng nếu sai, đội sau sẽ được trả lời. Nếu các thí sinh hai bên đều đáp chỉ gần đúng câu hỏi, ban giám khảo sẽ quyết định số điểm. Sau 20 câu, cộng điểm để xem ai thắng. Người chiến thắng được thưởng 13.000 đồng tính chung tiền mặt và tặng phẩm. Nhưng đội thua cũng được tặng 2.000 đồng.
Có mấy chi tiết về chương trình mà học sinh lúc đó rất thích là: Các giám khảo khi giải thích câu hỏi hay thí sinh trình bày câu trả lời thì dùng bút lông viết lên bảng giấy to, hết giấy sẽ xé trang đó để viết tiếp ở trang sau. Lúc đó trường học toàn dùng phấn viết trên bảng. Nhìn chương trình, thấy giấy khổ lớn rất đắt tiền mà viết lên, xé liên tục nên mọi người xuýt xoa tiếc của. Đã vậy, bút lông lúc đó cũng được xem là loại tối tân! Đâu dễ mua và xài sang như kiểu Mỹ!
Khi công bố giải thưởng, đám học trò mê sách thèm lắm. Có tên nhà hảo tâm được xướng lên thường xuyên, là Giáo sư Lê Thanh Hoàng Dân, thì hầu như chương trình nào cũng có tặng sách. Trong số phần thưởng có nhãn hiệu trà Đỗ Hữu. Đây là hình thức "xã hội hóa giáo dục", được khéo léo lồng ghép với quảng cáo thương hiệu, cũng là nét đẹp và dấu ấn khó phai của truyền hình giáo dục ngày trước.
Giọng điều khiển chương trình của Giáo sư Cao Thanh Tùng, một vị thầy đeo kính trắng có chiếc cằm vuông, rất được ưa thích vì thầy dẫn chương trình rất sinh động.
Tính từ khi phát chương trình đầu tháng 7.1966 đến đầu năm 1969, Đố vui để học phát được 79 chương trình cá nhân và 29 chương trình đồng đội, mỗi tuần một chương trình. Có khoảng 1.000 thí sinh dự thi, phần lớn là học sinh tiểu học. Cứ 100 thí sinh thì có 10 thí sinh đáp trúng tất cả 9 câu hỏi.

Sài Gòn chuyện đời của phố: Khách sạn cổ nhất còn đến bây giờ

 Trong cuốn Đông Dương ngày ấy (1898 - 1908), tác giả Claude Bourrin cho biết khi ông ngụ tại Continental vào năm 1898 thì Nhà hát Thành phố đang được xây dựng. Khách sạn Continental đã được khánh thành trước đó 9 năm.

Khách sạn Continental thời kỳ hưng thịnh thập niên 1930 - 1940 /// Ảnh tư liệu
Khách sạn Continental thời kỳ hưng thịnh thập niên 1930 - 1940
ẢNH TƯ LIỆU
Từ năm 1907 - 1910 tầng dưới của khách sạn là nhà sách của F.H.Schneider. Ông Schneider là người sáng lập ra tờ Lục tỉnh tân văn (1907) do ông Trần Chánh Chiếu làm chủ bút.
Tác giả Horace Bleackley trong quyển A tour in southern Asia (1925 - 1926) viết về không khí khách sạn thời đó như sau: “Bữa ăn được phục vụ tại các bàn nhỏ, thắp sáng bởi các ngọn đèn thần tiên trên hàng hiên rộng được che phủ bởi cây cối của đường Catinat (nay là Đồng Khởi - NV), và từ chín giờ tối cho đến nửa đêm, cảnh tượng phảng phất như một nhà hàng tại Champs Élysées. Bên kia đường một nhóm ăn mặc bảnh bao bước ra từ hành lang của rạp chiếu bóng hàng đầu... và gia nhập bữa tiệc đêm tụ tập tại các chiếc bàn nhỏ trên vỉa hè đằng trước khách sạn. Một dòng xe và xích lô, chở đầy đàn ông và đàn bà ăn mặc nhẹ nhàng để đi hóng gió, lướt đi không ngừng dọc theo con đường. Có lẽ một cuộc khiêu vũ đang diễn ra trong phòng khách của khách sạn, quay mặt ra khoảnh sân vuông vức” (Ngô Bắc dịch).
Khách sạn trở thành nơi lui tới của những du khách danh tiếng, các nhà văn, nhà thám hiểm: André Malraux, Bodard, Jacques Laurent, James Jones... và sau này là các nhà báo nổi tiếng khác. Những năm trước 1945, công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy lên Sài Gòn thường đến ngụ tại khách sạn Continental. Continental lúc đó đã là một biểu tượng của Sài Gòn.
Kể từ ngày khánh thành, khách sạn đã trải qua vài đời chủ cho đến năm 1930, con rể của Đốc phủ Mầu ở Mỹ Tho, Mathieu Franchini, người Pháp gốc đảo Corse, mua lại khách sạn Continental. Mathieu điều hành khách sạn trong suốt thập niên 1930 cho đến năm 1955. Vợ ông là bà Lê Thị Trọng, một phụ nữ có vẻ đẹp truyền thống, đã sinh cho chồng cậu con trai Philippe Franchini, sau này nối nghiệp cha mình làm chủ khách sạn trong những năm 1965 - 1975.
Theo người con Philippe Franchini viết trong cuốn sách của mình Continental Saigon, khi mới mua khách sạn, một người bạn của cha (Mathieu) đã nói với ông: “Mathieu, anh vừa mới tậu được lịch sử của Sài Gòn đấy!”. Có một số tài liệu cho rằng khách sạn là “của hồi môn” từ gia đình Đốc phủ Mầu khi con gái đi lấy chồng. Muốn xác định lại điều này, tháng 5.2017, qua sự giới thiệu của bà Loan de Fontbrune tại Paris (Pháp), tôi liên lạc được với ông Philippe Franchini và được ông trả lời về khoản tiền mua khách sạn như sau: “Khi cha tôi mua Continental với số tiền 155.000 piastre (tiền Đông Dương) thông qua một cuộc đấu giá, ông đang là đại lý của Hãng General Motors (chuyên sản xuất xe Chevrolet, Pontiac, Cadillac...). Đây là một khoản tiền trả góp khá lớn trong đó bao gồm chi phí cho những hạng mục cần sửa chữa. Ông ngoại tôi, Đốc phủ Lê Văn Mầu, đã giúp cha tôi một khoản vay mà sau đó cha tôi đã trả hết khi khách sạn hoạt động trở lại”.
Mua được khách sạn, Mathieu bắt tay vào việc sửa chữa và trang trí lại nó. Philippe kể trong sách về công việc của cha: “Chính Albertini, một tay trang hoàng người Corse, đảm trách công việc này. Gian phòng thông hàng hiên được chuyển đổi thành một nhà hàng cà phê lớn tiện nghi và thanh lịch, những chiếc cột hình trụ và những bức tường phủ lưới gỗ đan chéo nhau được sơn xanh lá cây, trần nhà được thắp sáng bằng những chiếc đèn áp tường miệng loe”.
Chắc hẳn bức tượng đồng Napoleon, một người cùng gốc đảo Corse như ông Mathieu Franchini được mua về trong thời gian này. Bức tượng hiện nay vẫn còn đặt ngay tại quầy nhận khách ở sảnh lớn của khách sạn.
Giữa thập niên 1950, nhà văn Anh Graham Greene đến ngụ ở khách sạn và viết cuốn sách Người Mỹ trầm lặng. Hiện nay, trước căn phòng 214 ông từng ở có gắn tấm bảng đồng ghi hàng chữ: The famous British writer, Graham Greene, stayed in this room when writing his novel “The quiet American”.

Sài Gòn chuyện đời của phố: Loại sơn 'tân kỳ' và 'mỹ diệu'

 Nghệ thuật vẽ tranh sơn mài được tìm tòi và phát triển nhờ các giáo sư và sinh viên Trường Mỹ thuật Đông Dương, đã sớm có thành tựu với nhiều tác phẩm được yêu thích từ thời Pháp thuộc.

Lớp làm tranh sơn mài tại Trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn
Lớp làm tranh sơn mài tại Trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn
Sau khi hai miền chia cắt năm 1954, sơn mài ở từng miền có hướng đi khác nhau. Ở miền Nam, số họa sĩ theo đuổi nghệ thuật sơn mài không nhiều, nổi tiếng nhất vẫn là họa sĩ tài danh Nguyễn Gia Trí.
Tiếp đó là các họa sĩ Ủ Văn An, Lê Thy, Trương Văn Thanh, Nguyễn Thành Lễ... Năm 1942, họa sĩ Ủ Văn An (cựu sinh viên Trường Mỹ thuật Đông Dương) có tổ chức một triển lãm cá nhân tại khách sạn Continental với nhiều phác thảo cho sơn mài, là phong cảnh ông ghi chép trên đường từ VN đến Campuchia. Nhưng cuộc triển lãm lớn về tranh sơn mài ở miền Nam chính là của các giáo sư Trường Mỹ nghệ Gia Định là Lưu Đình Khải, Nguyễn Văn Long và Nguyễn Văn Anh (đều là cựu sinh viên Trường Mỹ thuật Đông Dương), tổ chức tại sảnh phía trước Nhà hát Thành phố năm 1952.
Ngành mỹ nghệ ở miền Nam trước và sau 1954 tìm thấy ở nghệ thuật sơn mài cơ hội làm ra những tác phẩm tráng lệ, sang trọng như trước kia từng làm mê mẩn giới sưu tập nghệ thuật thời Pháp thuộc, nên họ đã tiếp tục lưu giữ và phát triển nó. Chất lượng nghệ thuật và kỹ thuật ngày càng cao trong tác phẩm của các công ty mỹ nghệ lớn như Thành Lễ, Trần Hà ở Bình Dương và Công ty Mê Linh ở Sài Gòn.
Họa sĩ vẽ tranh sơn mài giai đoạn cuối thập niên 1950 cho đến 1975, nay hầu như không còn mấy người. May thay, trong số đó, chúng tôi gặp được họa sĩ Nguyễn Văn Trung, họa sĩ theo đuổi sơn mài khá bền bỉ từ sau 1954 cho đến sau này, để tìm hiểu thêm về hoạt động của giới làm tranh sơn mài trước 1975.
Năm 1958, đoàn đại biểu Nam VN đi dự triển lãm Công giáo quốc tế tại Bruxelles (Bỉ) đặt Trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn làm vài tác phẩm để mang đi triển lãm. Trong đó, thực hiện một bộ tranh sơn mài bao gồm 12 bức tranh vẽ 12 giai đoạn cuộc đời của Chúa Giê-su mà Giáo sư Lê Văn Đệ giao cho 12 sinh viên thực hiện, và một bức tranh lớn diễn tả nỗi thống khổ của chúa Giê-su trong sự tích Công giáo dài tới 1,8 m, cao khoảng 1,2 m, gồm ba bức ghép lại.
Sau đó, lại có đặt hàng tranh sơn mài từ tổ chức Lao động miền Nam Việt Nam để tặng tổ chức Lao động quốc tế tại Thụy Sĩ. Đó là bức tranh rất lớn, ngang gần 3 m, dài 7 m lấy tên là Lao động Việt Nam. Khi thực hiện xong tác phẩm này, trường nhận được số tiền lớn, xây hồ nước, xây phòng ủ tranh gắn máy lạnh, mua vật liệu sơn mài. Bức tranh này sau được đưa sang thủ đô Kuala Lumpur (Malaysia) trưng bày trong một cuộc triển lãm của VNCH và có Tổng thống Ngô Đình Diệm sang khánh thành.
Sơn nhân tạo
Khoảng năm 1960, giới kỹ thuật ở Sài Gòn đã sáng chế ra một loại sơn nhằm thay thế nguyên liệu sơn ta giá cao, để làm tranh sơn mài. Đó là sơn nhân tạo của kỹ thuật gia Phạm Văn Thành.
Loại sơn này được báo chí lúc đó cho là “tân kỳ và mỹ diệu, có đủ màu như sơn dầu, dễ dùng, không đắt và rất bền”. Sơn này được giới thiệu là hợp chất của vài nguyên liệu nhập từ nước ngoài, pha trộn với vài thứ nhựa cây trong nước, có cả nhựa cây sơn (không nói là nhựa cây sơn từ đâu), giữ được nguyên thể của nhựa cây sơn nhưng mau khô hơn, chỉ 14 hay 15 tiếng là mài được, có thể dùng cọ hay thổi như sơn ta. Sơn này bóng láng như sơn mài, có thể cẩn trai ốc, khảm vỏ trứng, vẽ vàng bạc được, không cần ủ mài, sơn lên đồ gỗ, đồ sành đều được. Đã vậy khi khô sơn có thể chết như sơn ta, nghĩa là khi lớp này khô, lớp khác chồng lên thì khi mài đi, hai màu không bị lẫn lộn qua nhau.
Với nhiều ưu điểm như vậy, kỹ thuật gia này và một số người rất tin tưởng vào tương lai ứng dụng sơn trong ngành mỹ nghệ miền Nam. Đã có một cuộc triển lãm tranh và đồ mỹ nghệ thực hiện bằng sơn nhân tạo này tại Phòng Triển lãm Đô thành tại Sài Gòn vào tháng 1.1961 và họa sĩ Nguyễn Cường đã dùng sơn này sáng tác các họa phẩm trưng bày tại Câu lạc bộ báo chí Sài Gòn tháng 1.1962. Tuy nhiên, sau những hoạt động đó, không thấy ai nhắc đến phát kiến này nữa.

Sài Gòn chuyện đời của phố: Thành phố mở rộng và đô thị hóa

 Trước năm 1954, vẻ hào nhoáng đẹp đẽ của TP.Sài Gòn chỉ tập trung ở các con đường sầm uất như Charner (Nguyễn Huệ), Bonard (Lê Lợi), Catinat (Đồng Khởi)... và một số đường lân cận.

Đường Trương Minh Giảng năm 1970 /// Ảnh: J.B
Đường Trương Minh Giảng năm 1970
ẢNH: J.B
Sài Gòn trở thành một đô thị rộng lớn như sau này chỉ từ năm 1954 trở đi, khi người Pháp rút về nước và thành phố bắt đầu được chỉnh trang.
Từ đó, thành phố này mở rộng ra các hướng và đô thị hóa với tốc độ cực nhanh. Phía đông, nhà cửa đã vượt qua bên kia cầu, tới Tân Thuận Đông, cách trung tâm 5 km, bên kia sông tới Thủ Thiêm, gần đến Giồng Ông Tố cách trung tâm 3 km. Phía bắc, khu đô thị tràn kín toàn bộ Phú Nhuận, lan ra tới Gò Vấp - Hóc Môn. Những khu vực như ngã ba Ông Tạ, Xóm Mới, ngã năm Chuồng Chó, ngã tư Bảy Hiền trước đó vắng vẻ thì tới năm 1963 đã dày đặc nhà cửa. Phía tây, nhà mọc đến Phú Lâm, Phú Định. Phía nam bên kia Kinh Đôi, nhà mọc tới Đông Phú, Bình Đông, Chánh Hưng...
Khu Pétrus Ký (đường Lê Hồng Phong) và bến xe lục tỉnh
Trước 1954 là khu nhà lá xây cất tạm bợ không hàng lối. Trước đó, có đến một cây số những chiếc xe đò đậu sát nhau từ ngã tư Nguyễn Trãi đến gần Trường quốc gia Hành chính (nay là Học viện Hành chính quốc gia). Xe từ ngã sáu chạy về lục tỉnh đã phải len lỏi qua những con đường nhỏ hẹp và đông xe cộ. Sau đó, bến xe ấy được giải tỏa. Từ dự án phóng đường lớn nối từ Trần Hưng Đạo đến đường Trần Quốc Toản (Ba Tháng Hai) để xe cộ có lối thoát đi lục tỉnh thuận tiện và nhanh chóng, bến xe ở ngã sáu Sài Gòn dời về đây. Khu Pétrus Ký trở nên phồn thịnh từ khi có bến xe. Đường vừa làm xong thì nhà cửa hai bên cũng xong. Cho đến thời điểm 1963 thì xe cộ lúc nào cũng ra vô huyên náo, từ 4 - 5 giờ sáng cho đến 12 giờ khuya.
Đường Đồng Khánh (Trần Hưng Đạo B)
Đến thời điểm 1963, đã có rất nhiều nhà mới mọc lên dọc theo đường. Vì là đại lộ chính của Chợ Lớn, các nhà hàng lớn và sang trọng đều được tập trung về đây. Trong số các thương gia Hoa kiều, có khá đông người mới di cư từ những đô thị lớn của Trung Hoa lục địa về nên họ đem theo tất cả các lề lối buôn bán ở những đô thị quốc tế như Thượng Hải, Bắc Kinh... Cách bày biện cửa hàng cũng như hàng hóa, cả bảng hiệu quảng cáo, đều được đổi mới.
Từ 1954, những tòa nhà mới xây có nhà hàng Đồng Khánh, nhà hàng Thủ Đô 7 tầng, Pháp Hoa ngân hàng với một dãy nhà 3 tầng mới cất ở giữa khu đại lộ.
Đường Trần Quốc Toản (Ba Tháng Hai)
Đây là một xa lộ mới mở của vòng đai đô thành để cho xe cộ qua lại, khi muốn vào bên trong thành phố hay từ bến tỏa đi các tỉnh. Đây cũng là con đường để xe đi từ các tỉnh miền Đông thẳng sang các tỉnh miền Tây, không cần ghé qua thành phố, giảm áp lực cho giao thông nội đô lúc đó đã bắt đầu tăng. Đường dài khoảng 5 km từ đầu nối ngã năm Yên Đỗ (Lý Chính Thắng), Hiền Vương (Võ Thị Sáu), Lê Văn Duyệt (Cách Mạng Tháng Tám), Nguyễn Thượng Hiền thẳng tới Phú Lâm gặp đường Lục Tỉnh (Hùng Vương) để đi về các tỉnh miền Tây. Đường rộng có ba dòng xe đi và ba dòng xe về lúc nào cũng tấp nập xe chạy. Trên đường Trần Quốc Toản đối diện với khu Học viện Quốc gia Hành chánh đương xây cất, nhà dân đã mọc kín, toàn là nhà đẹp và đắt tiền.
Đường Trương Minh Giảng (Lê Văn Sỹ)
Đây là con đường tiêu biểu cho sự nỗ lực xây dựng trong giai đoạn chín năm 1954 - 1963. Trước năm 1954, khi chưa phóng con đường này ra tới khu Lăng Cha Cả thuộc ngoại ô thành phố, đây là một con đường nhỏ hẹp băng qua các ruộng lúa, vườn cây, vườn rau. Chỗ sau này là chợ Trương Minh Giảng với khu phố lầu chung quanh là một bãi rác khổng lồ. Cả một dọc dài từ ngã ba đường Trương Tấn Bửu (nay là Trần Quang Diệu) trở đi đã được coi là một vùng quê xa xôi hẻo lánh, không ai muốn bước chân tới sau khi mặt trời lặn. Sau chín năm, dọc hai bên đường gần năm cây số đã thấy toàn là nhà mới cả. Các khu cư xá, tu viện Đa Minh, biệt thự lầu, Trường tiểu học Trương Minh Giảng, dãy phố buôn bán, rạp hát, chiếu bóng... được xây dựng trong vòng bốn năm từ 1959 - 1963.
Khu Ngã Bảy và xóm Bàn Cờ
Khu Ngã Bảy, nơi gặp gỡ của các con đường Lý Thái Tổ, Hùng Vương, Nguyễn Hoàng (nay là Trần Phú), Cộng Hòa (Nguyễn Văn Cừ), Phạm Viết Chánh, Hồng Thập Tự (Nguyễn Thị Minh Khai) là đầu mối giáp ranh giữa Sài Gòn và Chợ Lớn, song song với đầu mối khác tại ngã tư Cộng Hòa -Trần Hưng Đạo.
Ngã Bảy là một góc của khu Bàn Cờ, khu đông dân nhất Sài Gòn, với đường ngang dọc vuông vắn như ô bàn cờ. Các con đường mới mở trong khu Bàn Cờ cũng như các con đường phía ngoài như Cao Thắng, Bàn Cờ, Nguyễn Thiện Thuật, Lý Thái Tổ, Đốc Phủ Thạnh (Nguyễn Sơn Hà), Phan Thanh Giản, Phan Đình Phùng (Nguyễn Đình Chiểu)... đều kín nhà, hầu hết là nhà buôn bán.
(Dựa vào tư liệu báo Sáng Dội Miền Nam số 48 tháng 6.1963)

Sài Gòn taxi màu xanh dương

 Chữ taxi đã được người Pháp dùng để chỉ xe chở khách từ thập niên 1930. Cuối thập niên 1940, Renault 4CV được nhập cảng vào Sài Gòn để làm phương tiện di chuyển cá nhân.

Taxi quay... tay!
Tuy nhiên phải đến sau 1954, taxi mới trở thành phương tiện dành chở khách. Taxi thời đó bị chết máy thì tài xế phải dùng tay quay maniven (thanh quay) để khởi động máy. Vì vậy, hồi ấy tài xế taxi được gọi là dân “ma ni ven”. Khách cần dùng taxi có thể đến mướn xe ở những bãi đậu - trước Sở Hỏa Xa (đường Hàm Nghi), đường Lê Lai cạnh ga xe lửa Sài Gòn xưa. Sau này đón dọc theo đường Nguyễn Huệ, Lê Lợi, hoặc vẫy tay dừng taxi trên phố.
Năm 1967, xe taxi đa phần là hiệu Renault 4CV (còn gọi là taxi con cóc) của Pháp với thân màu xanh dương đậm, mui màu trắng ngà. Trên mui có hộp mê ca kẻ chữ Taxi màu đỏ, tính tiền bằng đồng hồ ki lô mét. Xe không máy lạnh, không có radio, nhưng thời đó một bước mà lên chiếc xe màu xanh là cũng “oách càng cua” lắm rồi. Người dân rất dễ nhận diện một chiếc taxi vì tất cả taxi đều thống nhất mẫu màu xanh dương đậm dù cho chủ chiếc taxi đó thích màu khác cũng không được làm trái quy định của Tòa Đô chánh. Ngoài taxi thuộc dòng xe Renault 4CV, các dòng xe khác cũng được dùng làm taxi như Peugeot, Simca và Dauphine xuất hiện trên đường phố khoảng giữa thập niên 1960. Hầu hết các xe taxi thời đó đều viết khẩu hiệu tuyên truyền: “Không bỏ rác xuống đường” phía trong mui xe để giữ đường phố sạch đẹp.
Người chủ mua xe nhập cảng về rồi cho người muốn hành nghề lái taxi thuê lại. Tuần San Thương Mại Sài Gòn năm 1962 cho biết lúc ấy giá một chiếc taxi mới nhập về là 180.000 đồng, người chủ cho người lái thuê lại với giá 210 đồng/ngày. Giá thuê này do chính quyền quy định, giới chủ xe không được tự quyết định giá cho thuê. 6 năm sau bán xe cũ chủ xe chỉ thu được 50.000. Mỗi tháng chủ xe phải khấu trừ các sắc thuế đóng vào xe taxi, tiền mua phụ tùng tu bổ xe, trả tiền sửa chữa xe sau tai nạn... Năm 1962, Tòa Đô chánh đã cấp 6.580 giấy phép lưu thông nhưng chỉ có khoảng 4.500 chiếc taxi lưu hành vì số giấy phép còn lại đã được trả lại cho nơi cấp. Trong khi đó, Nghiệp đoàn Tài xế taxi đấu tranh đòi các ông bà chủ cho thuê xe taxi giảm xuống chỉ còn 200 đồng/ngày và chấp nhận người lái taxi là công nhân của chủ xe. Tất nhiên là cả hai phía đều không gặp nhau. 
Sài Gòn taxi màu xanh dương - ảnh 1
Sài Gòn taxi màu xanh dương - ảnh 2
Taxi Renault 4CV trên đường phố Sài Gòn xưa
ẢNH: T.L
Một thời gian sau để giúp cho tài xế taxi được “hữu sản hóa”, các nhà nhập cảng taxi được bán xe cho tài xế bằng cách trả góp với điều kiện là người mua được một cơ quan lý tài bảo đảm. Tuy nhiên, không phải ai muốn mua xe hơi để chạy taxi đều được cho mượn tiền dễ dàng. Xe lam tương đối rẻ được ngân hàng cho vay dễ hơn. Việc cho vay mua xe taxi đòi hỏi nhiều điều kiện thế chấp khắt khe hơn nhiều. Có người thế chấp nhà cửa, có người phải có số tiền tiết kiệm trong ngân hàng hơn 50% số tiền mượn mua xe.
Nhờ taxi lấy được vợ
Chương trình “hữu sản hóa” đã giúp cho số lượng tài xế có xe tăng lên rõ rệt đến nỗi vào năm 1966 báo Phổ Thông đã viết: “Ở Sài Gòn, dân số 1 triệu rưỡi người, taxi hiện lưu hành 6.000 chiếc thì đổ đồng 250 người dân dùng một taxi. Trong khi ở Paris cứ 360 người dân xài một chiếc, New York 667 người/chiếc, Luân Đôn 1.350 người/chiếc. Vậy mà chờ có khi hàng giờ mới có một chiếc taxi”.
Tuần San Thương Mại Sài Gòn năm 1967 mô tả: “Những năm trước kia túi xủng xoẻng đồng tiền là yên trí, muốn vẫy xe nào lập tức có ngay. Nhưng vào thời buổi Sài Gòn xuất hiện những cô gái diện mini jupe khoác tay ngoại kiều thì chuyện xe cộ cũng bắt đầu thay đổi”. Tài xế taxi đã chê, không thèm rước khách “lô can” - người Việt vì có sự xuất hiện của lính Mỹ. Lính Mỹ chịu “bo”, trả nhiều tiền hơn khách Việt. Mỗi chiếc taxi đều có một cái bảng nhỏ được gọi là “cờ” ghi chữ “Có khách”. Dù xe đang trống nhưng gặp khách Việt, đa phần tài xế giương “cờ” lên. Vậy mà khi thấy khách Mỹ hoặc người có vẻ là “me” Mỹ thì tài xế taxi kéo “cờ” xuống gọi là “bẻ cờ”. Cuối năm 1954, xe taxi bị cấm chở bốn người, rồi không được chạy quá một giờ sáng. Vì vậy lúc ấy đã phát sinh ra một loại xe mới để chở khách về khuya với các thương hiệu như Ford Vedette, Citroen Traction, Peugeot... Xe nhà nhưng chủ nhân đem ra chở khách. Khách trả tiền theo thỏa thuận với tài xế kiêm chủ xe vì xe không có đồng hồ.
Chú Hai trong xóm của tôi mua lại chiếc xe cũ của chủ mà chú đã từng thuê với giá rẻ rồi gắn thêm radio để phục vụ khách. Đối với những khách hay nói chuyện chính trị thì cho nghe tin thời sự. Còn với những cô cậu đợt sóng mới thì cho nghe nhạc rock and roll, các cụ già thì nghe cải lương, hát bội... Không có khách thì chính radio là người bạn đường làm bớt buồn trong những chuyến xe đêm trên cung đường vắng. Chú Hai không bao giờ từ chối khách nội địa - nhất là những người khách có vẻ như đang phải gặp chuyện cấp cứu đến nhà thương. Còn chuyện đở đẻ cho sản phụ trong xe thì thỉnh thoảng cũng hay gặp. Hy hữu là có lần một sản phụ bị tình nhân bỏ rơi trong đêm mưa được chú đỡ đẻ, sau này đã trở thành thím Hai taxi.
Đầu những năm 1980, tôi gặp chú đang đậu chiếc xe taxi Renault 4CV tả tơi hoa lá trước Bệnh viện Bình Dân để đón khách. Chú Hai than thở: “Chắc phải bỏ nghề quá vì xe cũ, hư không có phụ tùng thay”. Dần dần những chiếc taxi đậu trước Bệnh viện Bình Dân biến mất vì “lão hóa”. Sau đó, taxi Sài Gòn gần như mất tích một thời gian dài cho đến khi các hãng taxi tư nhân được thành lập.

Gian lận trong thi cử ngày xưa: Xóa bỏ 'Sinh đồ ba quan'

 Ngày nay vẫn còn tồn tại thành ngữ 'Sinh đồ ba quan' - nhằm chỉ các cống sĩ chữ nghĩa ù ù cạc cạc, văn dốt vũ dát, từ tệ nạn gian dối trong thi cử mà ra.

Quang cảnh trường thi 
năm 1895 /// Ảnh: Tranh trích trong tập Technique du peuple Annamite của Henri Oger - 1909
Quang cảnh trường thi năm 1895
ẢNH: TRANH TRÍCH TRONG TẬP TECHNIQUE DU PEUPLE ANNAMITE CỦA HENRI OGER - 1909
Khoa cử VN từ đời nhà Đinh, nhà Lê trở về trước rất khó khảo cứu, ngay cả trong Lịch triều hiến chương loại chí, nhà bác học Phan Huy Chú (1782 - 1840) cũng chỉ viết: “Khoa cử bấy giờ còn thiếu, triều đình dùng người không câu nệ, không theo phép tắc cụ thể nào, sự cân nhắc còn rộng rãi, mà thực ra nội quy thi cử cũng chưa được tường. Điều này cũng dễ hiểu vì bắt đầu xây dựng, sự thể cũng phải như vậy”. Phải đợi đến năm 1010 với sự ra đời của triều Lý, từ quốc hiệu Đại Cồ Việt đổi thành Đại Việt, chuyển kinh đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, việc khoa cử chọn nhân tài mới bắt đầu được chú ý đến. Dù vậy, khoa cử chưa định lệ rõ ràng.
Trải qua các triều đại, khoa cử ngày càng hoàn thiện, chỉn chu hơn, nhưng phải đến đời vua Lê Thái Tông (1433 - 1442) mới quy định 3 năm mở một khoa, phải thi qua 4 trường khác nhau (hoặc gọi là 4 kỳ). Nhà bác học Phan Huy Chú cho biết: “Phép ấy truyền thành quy mãi mãi”; và “về sau phép thi càng trở thành nghiêm ngặt”.
Một trong những sự kiện quan trọng có ảnh hưởng sâu sắc đến nền nếp của khoa cử, là việc vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497) ban hành bộ luật Hồng Đức - gồm 6 quyển, 722 điều. Đến nay, đây vẫn được xem là bộ luật hoàn chỉnh nhất thời phong kiến ở nước ta - trong đó, có quy định rõ ràng, rành mạch về vấn đề liên quan đến giáo dục. Phan Huy Chú có nhận xét xác đáng: “Khoa cử các đời, thịnh nhất là đời Hồng Đức. Cách lấy đỗ rộng rãi, cách chọn người công bằng, đời sau càng không thể theo kịp”.
Có đức hạnh mới được đi thi
Để không bỏ sót nhân tài, khi có chiếu chỉ của nhà vua, các làng xã lập bản thống kê những người có học để nộp lên cho huyện, dù người đó chưa đến 18 tuổi. Huyện rà soát danh sách rồi nộp lên cho cơ quan phụ trách giáo dục là hai ty Thừa, Hiến. Số thí sinh dự thi Hương quá đông nên bước đầu có cách loại bớt như thi sát hạch là môn ám tả - thí sinh nghe đọc rồi viết lại đúng mặt chữ hoặc phải viết một đoạn trong Tứ thư hoặc Ngũ kinh mà họ đã nhớ thuộc lòng. Ai làm được thì mới được tiếp tục thi. Cũng giống như sau này thi Hội, các thí sinh phải lần lượt thi 4 kỳ, đậu kỳ trước mới được thi kỳ sau.
Thế nhưng không phải ai có học cũng được đi thi, chẳng hạn, vua Lê Thánh Tông quy định cụ thể: Các quan địa phương phải đảm bảo thí sinh là người có đức hạnh thì mới được khai báo vào sổ ứng thí. Những kẻ bất hiếu, bất mục, loạn luân, điêu toa; những nhà làm nghề hát xướng cùng là nghịch đảng ngụy quan và người có tiếng xấu thì bản thân và con cháu dẫu có học vấn cũng không được vào thi…
Khi đi thi, thí sinh làm văn phải hồn hậu, đầy đủ, nếu ý nghĩa nông nổi và bài viết giống nhau thì bị đánh hỏng. Thí sinh đem theo tài liệu; “cóp pi” bài người khác; không viết được chữ nào hoặc làm bài mà xóa nhiều quá thì bị đuổi khỏi trường thi. Kẻ nào bạo gan thi thay người khác bị trị tội, suốt đời không được đi thi.
“Tiền thông kinh”
Theo năm tháng, dù quy định nghiêm ngặt, nhưng rồi do nhiều lý do, việc tuyển lựa “đầu vào” cũng xảy ra những việc gian dối. Cụ thể, Lịch triều hiến chương loại chí cho biết: “Năm 1750, cho mọi người nộp tiền vào thi Hương. Trước đây, khi mới trung hưng, mỗi người đi thi nộp 5 tiền gọi là “tiền thông kinh”, để chi tiền ăn cho hiệu quan ở huyện. Từ thời Thái Bảo thi hành phép điệu, phí tổn về tiền thi đều lấy ở tiền công, “tiền thông kinh” này cũng nộp nhưng để chi phí vào việc làm trường và sắm đồ dùng cho quan trường”.
Trong thời điểm này, có nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra như Hoàng Công Chất, Quận He Nguyễn Hữu Cầu, Quận Hẻo Nguyễn Danh Phương… Chiến tranh liên miên, kho ngân quỹ của nhà nước ngày càng kiệt quệ. “Đến bấy giờ, Thự phủ Đỗ Thế Giai cho rằng dụng binh tiêu phí nhiều, tiền tài nhà nước thiếu thốn, cho mỗi người nộp tiền
3 quan, không phải khảo hạch, đều được vào thi, cũng gọi là “tiền thông kinh”. Vì thế, người làm ruộng, người đi buôn cho chí người hàng thịt, người bán vặt cũng đều làm đơn nộp tiền xin thi cả. Ngày vào thi đông đến nỗi giày xéo lẫn nhau, có người chết ở cửa trường. Trong trường thi, nào mang sách, nào hỏi chữ, nào mượn người thi thay, thay nhau làm bậy, không còn biết phép thi là gì”.
Sự việc tồi tệ này diễn ra vào lúc Minh Vương Trịnh Doanh đem quân đi đánh dẹp Nguyễn Doanh Phương. Lúc thắng trở về, nghe xôn xao trong dư luận sự việc nhố nhăng này, ông giận quá bắt các cống sĩ phải thi lại hết. Kết quả là hơn phân nửa rớt như sung rụng. Các quan viên đề điệu, giám thí, giám khảo đều bị giáng và bãi chức. Từ đó, trong dân gian mới có câu mỉa mai “Sinh đồ ba quan” là vậy. Sau này, dưới đời vua Quang Trung, thay mặt nhà vua viết chiếu về việc lập nhà học, danh sĩ lỗi lạc Ngô Thì Nhậm cũng chống lại việc nộp tiền để được đi thi Hương và ấn định: “Sinh đồ ba quan nhất thiết bắt về làm dân, cùng dân chịu sưu dịch”.
Việc chấn chỉnh trong khoa cử, thời nào cũng có. Chẳng hạn, năm 1664, vua Lê Huyền Tông cũng đã từng cho thi khảo hạch lại các sinh đồ. Trong Kiến văn tiểu lục, Lê Quý Đôn cho biết: “Lúc ấy, số người dự thi bị đánh hỏng đến quá nửa”

Gian lận trong thi cử ngày xưa: Tuồn đề thi cho thí sinh, đi thi hộ

 'Phép cấm không nghiêm thì không trừ được thói gian dối, chọn lọc không tinh vi thì không lấy được thực tài', câu nói của vua Lê Hiến Tông (trị vì 1498 - 1504) vào năm 1499, xét ra thời nào cũng đúng.

Lớp học ngày xưa
 /// Ảnh: Tranh trích trong tập Technique Du Peuple Annamite Của Henri Oger – 1909
Lớp học ngày xưa
ẢNH: TRANH TRÍCH TRONG TẬP TECHNIQUE DU PEUPLE ANNAMITE CỦA HENRI OGER – 1909
Từ một “bạch diện thư sinh” muốn lều chõng nên danh phận, thì trước hết phải qua kỳ thi khảo hạch. Đời Lê quy định nếu lấy bừa, không đúng thực chất thì quan chức phủ doãn và hai ty Thừa, Hiến lo về giáo dục phải chịu phạt. “Một tên thì phạt 3 quan tiền quý, 10 tên trở lên thì phạt tội nặng”, Lịch triều hiến chương loại chí cho biết. Sau khi sàng lọc, nhằm loại bỏ những ai không đủ khả năng, các thí sinh còn lại được lều chõng thi Hương.
Hình phạt nặng cho người gian lận thi cử
Trước ngày thi, các giám quan còn phải khám xét trong khu vực thi của thí sinh cắm lều, có chôn giấu sách vở gì không... Theo lệ thời Lê, nếu ai đem những bản sao chép văn chương, sách vở hoặc đi thi hộ người khác thì bị bắt đem xét hỏi - những kẻ phạm tội kể trên phải sung quân ở bản phủ 3 năm và suốt đời không được đi thi. Những giám quan mà không minh chính, không làm tròn phận sự thì bị giáng chức. Lệ này, đến thời nhà Nguyễn vẫn không thay đổi, dù hình phạt có khác.
Gian lận trong thi cử ngày xưa: Tuồn đề thi cho thí sinh, đi thi hộ - ảnh 1
Hội đồng giám khảo gồm các quan chủ khảo tề tựu tại trường thi cuối thế kỷ 19
ẢNH: T.L
Khoa thi năm 1717, Nguyễn Quý Thành - giám khảo trường thi Hương Phụng Thiên đã tuồn đề thi ra ngoài, bị bãi chức. Còn thêm tệ hại gian dối nữa là do cách ra đề thi. Theo Phan Huy Chú, suốt thời gian dài, hết khoa thi này đến khoa thi nọ: “Quan trường ra đề dùng tứ thư, sử, tứ lục, độ hơn 10 bài; phú độ 5, 3 bài, đầu đề đặt sẵn không có gì thay đổi, gọi là “sử thư”. Bọn học giả phần nhiều làm bài sẵn đem bán. Học trò đi thi, trước hết hỏi mua lấy những bài học ấy học thuộc lòng, hoặc giấu đem vào trường, cứ thế mà viết. Quan chấm trường cứ theo văn mà lấy đỗ, trùng kiến cũng mặc, cho nên việc mang sách vào trường hay mượn người làm thay dẫu có ngăn cấm, mà người đỗ vẫn không có thực tài”.
Thi không nghiêm sẽ tổ chức thi lại
Dù có kết quả thi nhưng nếu dư luận xì xào, biếm nhẽ cười cợt do thi cử không nghiêm, lập tức triều đình cho tổ chức thi lại. Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn ghi: “Năm 1726, Nguyễn Công Đài, Bạo quận công, có tờ khải là khoa này lấy đỗ phần nhiều nhũng lạm nên triều đình bắt thi lại ở bến sông bằng một bài văn sách, đánh hỏng 17 người kém quá, lúc ấy con trai thượng thư Lê Anh Tuấn và con thiếu bảo Đỗ Bá Phẩm đều không hợp cách. Năm 1747, vì dị nghị sĩ tử sôi nổi nên triều đình hạ lệnh thi lại, đánh hỏng hơn 10 người… Vì khảo hạch không tinh tường nên đề điệu, giám thí ở trường thi và các xứ bị giáng chức hoặc bị phạt”.
Trước lúc thí sinh vào trường thi, thời nhà Lê, có lệ xã trưởng phải đích thân nhận mặt có đúng người hay kẻ khác thay thế, thi hộ. Năm 1645, Hồ Sĩ Dương thi Hương đỗ đầu. Nhưng năm 1648, ông lại đi thi hộ người khác. Sự việc phát giác, ông bị sung quân ngũ mấy năm, đánh tuột cả học vị Hương cống đang có, vì thế ba năm sau, ông lại phải thi Hương lần nữa; hoặc có thí sinh bị cấm thi trong nhiều năm…
Kỳ thi Hương năm 1858, trong đám học trò con nhà quyền quý mà dốt nát có kẻ đã mướn Tôn Thọ Tường thi hộ. Không rõ Tôn nhận lời vì nghèo túng, hay chơi ngông. Nhưng rồi sự việc bị bại lộ, Tôn bị bắt giải về kinh để đợi ngày nhà vua xét tội. Trên đường đi ra Huế, Tôn làm bài thơ than thở, có câu: “Vì nhà túng rối nên quyền biến/Phép nước răn he há dám khinh”. Vua Tự Đức thương tình tha tội.
Trường hợp của Phan Bội Châu lại khác. Mới 16 tuổi, cụ đã đỗ đầu xứ trong kỳ thi hạch tuyển thí sinh ở trường thi Nghệ An. Với học lực này, ai cũng tin cụ sẽ dễ dàng đỗ đầu khoa thi Hương năm 1897. Oái oăm thay, trước lúc vào thi có người bạn lén bỏ vào tráp của cụ mấy quyển sách để tiện tra cứu khi làm bài. Cụ hoàn toàn không biết chuyện này. Do đó, khi vào thi, người lính gác đã soát lều chõng và tráp của cụ, cụ bực mình nói xẵng: “Ta đã đậu đầu xứ ở tỉnh Nghệ, đời nào lại thèm mang sách vào”. Người lính vẫn cứ làm theo quy định chung. Nào ngờ trong tráp của cụ đã có kẻ lén bỏ sách vào thật! Cụ điếng người. Trước sự chứng kiến đông người, cụ đã bị hội đồng thi kết tội “Hoài hiệp văn tự” (mang theo sách vở) với án “Chung thân bất đắc ứng thí” (trọn đời không được đi thi).
Trước nỗi oan này, không những sĩ tử mà ngay cả thầy Nguyễn Thức Tự - người dạy Phan Bội Châu - cũng tặc lưỡi than: “Kỳ oan nan bạch” (Oan khúc lạ lùng, khó mà biện bạch cho được). Để biện minh cho sự trong sạch của mình, cụ lặn lội vào kinh đô Huế để tìm cơ hội giải oan. Do cảm phục tài năng của cụ, nên Tế tửu Quốc tử giám là Tiến sĩ Khiếu Năng Tĩnh và một số quan lại đã vận động triều Nguyễn xóa án này. Khoa thi năm 1900, cụ Phan Bội Châu ra ứng thí đã đỗ Giải nguyên.

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons