Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2015

Nữ danh xứ Nam kỳ - Kỳ 6: Người làm bảo hiểm tư nhân đầu tiên ở Sài Gòn

Ở TP.HCM hiện có rất nhiều công ty và nhân viên hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm nhưng ít ai biết về một phụ nữ đã từng làm nghề này đầu tiên tại Sài Gòn.

Nguyễn Bình Minh lúc còn trẻ - Ảnh: T.L
Nguyễn Bình Minh lúc còn trẻ - Ảnh: T.L
Đặt tên cho con gái đầu lòng của mình là Nguyễn Bình Minh, người cha có niềm mong ước tương lai của con sẽ luôn sáng sủa, tươi đẹp. Bình Minh là chị cả của hai em gái Bình Thanh và Bình Trang… vì suýt soát tuổi nên chơi với nhau rất thân. Lớn lên, các cô đều bị cuốn hút vào phong trào học sinh sinh viên. Bình Minh từng mặc áo dài trốn mẹ đi biểu tình. Còn lúc hai em gái tham gia phong trào “Trò Ơn” bị nhà trường đuổi học phải vào chiến khu, Bình Minh náo nức muốn được đi cùng. Cô muốn như cánh chim tung bay giữa vòm trời cao rộng, khao khát thở hít không khí tự do nhưng do yêu cầu của tổ chức đành chấp nhận ở lại.
Bình Minh chọn cho mình con đường đấu tranh thầm lặng. Nhiều lần vào chiến khu thăm các em, cô lại tự an ủi: “Thôi thì không bay nhảy được vào vùng kháng chiến mình sẽ rèn luyện trong các lĩnh vực khoa học, nghệ thuật, tư tưởng... góp phần giáo dục những con người tốt cho xã hội”. Bình Minh lại trở về thành dạy học ở Trường Gia Long, vừa theo đuổi môn luật.
Bình Minh đã giúp cha đắc lực trong việc vận động xây dựng Trường Đức Trí. Ông Nguyễn Văn Đức, cha cô, hiểu rằng cuộc kháng chiến sẽ thắng lợi. Lúc ấy rất cần có một cơ sở để số cán bộ trí thức không tập kết ra miền Bắc có môi trường hoạt động hợp pháp. Bằng sự nỗ lực của ông và các cổ đông, trường được thành lập và Bình Minh làm hiệu trưởng vào khoảng năm 1963. Trong một thời gian dài, trường là nơi che chở cho một số cán bộ hoạt động như: Bùi Thị Nga, Trần Thị Mỹ, Nguyễn Thị Diệu, cô giáo Kim Cương... và nhiều thế hệ học sinh ưu tú, hiện đang nắm giữ nhiều chức vụ quan trọng của đất nước.
Hành trình đi tìm lá cờ Tổ quốc
Năm 2014, trong một lần cùng đoàn cựu giáo chức đến thăm Nhạc viện TP.HCM, cả hội trường sững sờ nghe Bình Minh kể về quá trình đi tìm lá cờ Tổ quốc trong những ngày mất nước. Cô nhớ lại: Năm 1940, là con gái một kỹ sư công chánh, tôi được gửi vào học Trường Marie Curie. Mỗi ngày đều phải chào cờ Pháp, hát quốc ca Pháp. Tôi thầm nghĩ: “Tại sao mình là người VN lại đi chào cờ, hát quốc ca Pháp?”. Cờ VN như thế nào, VN có quốc ca không? Rồi cô mải miết đi tìm. Cô lật từ điển bách khoa kiếm cờ VN mãi không tìm thấy. Cuối cùng, cô tìm được lá cờ xứ An Nam màu vàng, in hình con rồng (của triều Nguyễn). Hai chữ An Nam làm nước mắt cô rơi vì vui sướng. Từ đó, mỗi khi chào cờ cô tự nghĩ rằng mình không chào cờ tam tài của Pháp mà trong tâm trí cô hình lá cờ VN đã tìm được...
Cô nhớ rõ ngôi nhà của dì ở 89 bis Lê Văn Duyệt là nơi sinh viên tập những bài hát của nhóm Hoàng Mai Lưu. Năm 1941, Tổng hội Sinh viên Đông Dương đã chọn bài hát chính thức do Lưu Hữu Phước sáng tác với tên gọi Thanh niên hành khúc và thật khó có thể tin, trong buổi biểu diễn ra mắt ở Nhà hát Lớn; cô Bình Minh đứng trên sân khấu, đánh accordeon, sững sờ khi nhìn thấy cả những quan chức Pháp đến dự buổi biểu diễn cũng phải đứng lên chào đón một thế hệ thanh niên mới. Đó là một sáng kiến của nhóm Hoàng Mai Lưu mà hôm ấy Trần Văn Khê là nhạc trưởng, đã khiến cho Bình Minh vừa kéo đàn vừa sung sướng rơi nước mắt...
Vì từ những hoạt động sôi nổi ấy bị theo dõi, trong một lần đi chấm thi vừa bước ra khỏi xe, cô đã bị bắt vào bót Ngô Quyền.
Kinh doanh bảo hiểm để dễ hoạt động
Gần một năm rưỡi trong nhà tù, cô đã kiên trì giữ vững lập trường của mình và cuối cùng kẻ thù đã phải trả tự do cho cô nhưng bị theo dõi rất chặt. Tuy nhiên, để tránh sự theo dõi của mạng lưới mật vụ, cô chuyển hướng hoạt động bằng cách dạy học tại Trường Gia Long, ĐH Văn khoa và dạy nhạc ở Trường Đức Trí.
Bình Minh chỉ dám nhận dạy giờ cho các trường ĐH để dễ thay đổi chỗ làm. Khi nhận thấy có nhiều dấu hiệu bất ổn, cô dùng tấm bằng cử nhân luật của mình làm thêm nghề bảo hiểm. Năm 1968, Bình Minh cùng bạn bè hùn vốn mở công ty tư nhân kinh doanh bảo hiểm đặt tại số 89 bis Lê Văn Duyệt (nay là đường Cách Mạng Tháng Tám). Nhờ có nghề mới này mà trong quá trình kinh doanh, cô được đi nhiều nơi, tiếp tục hoạt động cách mạng trong lòng nội đô. Hiện bà sống tại TP.HCM và lưu giữ rất kỹ tấm card visit ghi nghề bảo hiểm, để mọi người biết đến là người phụ nữ làm nghề bảo hiểm tư nhân đầu tiên ở Sài Gòn.

Nữ danh xứ Nam kỳ - Kỳ 5: 'Bóng hồng' lặng lẽ sau Nguyễn An Ninh

Vâng, chắc hẳn phải có một tình yêu vĩ đại nên người phụ nữ ấy mới dám vượt lên 'cái tôi' kiêu hãnh để cùng ông đi suốt cuộc đời...
Bà Trương Thị Sáu năm 1927 và con trai đầu Nguyễn An Định - Ảnh: Trầm Hương chụp lại từ tư liệu gia đìnhBà Trương Thị Sáu năm 1927 và con trai đầu Nguyễn An Định - Ảnh: Trầm Hương chụp lại từ tư liệu gia đình
“Cô Sáu Cầu Ông Lãnh”
Bà có nhũ danh là Trương Thị Sáu, phu nhân của chí sĩ Nguyễn An Ninh, một nhà yêu nước vĩ đại. Bà sinh ngày 26.6.1899 tại xã Phước Lại (H.Cần Giuộc, Long An). Cha bà là một người Hoa nghèo gốc Phúc Kiến, đã có một đời vợ, trôi dạt sang VN làm ăn. Ông ngoại của bà là một điền chủ giàu có, quý mến tính thật thà, siêng năng, chịu khó của “anh Trương” bán vải dạo mà gả người con gái thứ ba (tức mẹ của bà Sáu) cho ông. Kể từ ngày ấy, công việc làm ăn của cha mẹ khá phát đạt. Nhưng một cái tang lớn đã phủ lên mái nhà những tưởng hạnh phúc ấy khi cha bà đột ngột qua đời, để lại cho người vợ trẻ đàn con 5 đứa còn thơ dại. Quá buồn khổ, mẹ bà lâm bệnh hậu sản. Gia đình bà Sáu lâm vào cảnh khánh kiệt, phải tá túc trong một góc vườn của ông ngoại. Trong cảnh ăn nhờ ở đậu, khát vọng làm giàu cứ lớn dần theo năm tháng trong những giấc mơ thiếu nữ của bà.
Năm 1924, những bài báo chống Pháp nảy lửa trên tờ Tiếng chuông rè (La Cloche Fêlée) của Nguyễn An Ninh đã tạo nên trong lòng bà niềm khâm phục. Tốt nghiệp ngành luật ở Pháp vừa mới về nước, ông Ninh từ chối vinh hoa phú quý, cả sự đe dọa của Pháp để làm “quốc sự”. Được những người bạn đầy thiện ý vun đắp, ông Ninh đến thăm cửa tiệm may của “Cô Sáu Cầu Ông Lãnh” và gặp bà ở đó. Mặc dù trái tim ông vẫn còn thương tổn vì cuộc hôn nhân đầu tiên vừa đổ vỡ, nhưng chính cuộc gặp gỡ ấy đã dẫn cả hai đến một mối lương duyên đầy hạnh phúc, dù không ít chông gai, trắc trở mà họ đã nỗ lực vượt qua. Bà tâm sự: “Quen nhau gần một năm thì anh Ninh đặt vấn đề xin cưới tôi và anh ra cho hai điều kiện: một là bỏ ý đồ mua bán làm giàu và hai là trở lại Trung Chánh, xã Mỹ Hòa quê anh, tôi đều đồng ý. Trước khi về nhà chồng tôi bán hết cửa tiệm, máy may và hàng hóa khoảng mười ngàn đồng, một số vàng và hột xoàn. Nhờ đó tôi cũng đóng góp, giúp được ít nhiều tiền bạc cho anh Ninh và anh em khác để hoạt động cách mạng...” .
Trái tim nhỏ, tình yêu lớn
Nhằm tạo điều kiện cho ông Ninh yên tâm hoạt động, bà Sáu lo vận động tiền bạc, chuẩn bị cơ sở vật chất rước cụ Phan Chu Trinh từ Pháp về nước, chăm sóc thuốc thang cho cụ mạnh khỏe để cụ tiếp xúc với đồng bào. Bà sẵn lòng giúp đỡ phương tiện vật chất, tiền bạc cho anh em đồng chí của Nguyễn An Ninh, nhất là lo cho ông tiếp tục ra các báo La Cloché Fêlée, L’ Annam.
Năm 1926, bà sinh người con trai đầu lòng Nguyễn An Định khi ông Ninh đang ngồi tù vì tội diễn thuyết đòi quyền tự do dân chủ. Bà kiên định với cả con đường mà ông Ninh đã chọn lựa. Bà quen dần với việc sinh con một mình khi chồng ngồi tù hay bôn ba trên con đường tranh đấu. Năm 1929, ông Ninh bị tuyên án 3 năm tù, phạt 1.000 quan tiền, 5 năm mất quyền công dân về tội lập hội kín. Bà đã sát cánh cùng với ông Châu Văn Liêm vận động tổ chức anh em thành lập Đảng. Ngôi nhà bà trở thành trạm liên lạc, vừa là thư viện đọc sách, vừa là chỗ nghỉ ngơi của anh em, trong số đó có ông Võ Văn Tần.
Năm 1930 - 1931, phong trào đấu tranh của quần chúng sôi sục ở Nam bộ. Dù bận hai con nhỏ nhưng bà vẫn đi vận động, xuống cơ sở diễn thuyết, kêu gọi bà con biểu tình. Bà ôm đứa con nhỏ, trốn dưới hầm tàu tìm chồng đang bị địch đày xuống Hà Tiên (dù đã mãn hạn tù) nhằm cách ly ông Ninh ra khỏi ảnh hưởng phong trào quần chúng nổi dậy. Tháng 9.1939, ông Ninh nhận án tù biệt xứ. Bà đưa các con về Mỹ Tho mở hiệu thuốc sinh sống rồi lập gánh hát Kim Chung kiếm tiền mưu sinh, ủng hộ tổ chức. Bà thay ông thực hiện những công việc còn dang dở: xuất bản, giữ gìn từng quyển sách, trang viết của ông Ninh, nuôi đàn con 5 đứa còn thơ dại... Gần cuối năm 1943, một người bạn tù về tìm bà cho hay ông Ninh đã hy sinh ngoài Côn Đảo. Bà không muốn tin vào điều khủng khiếp ấy nên chạy đến bót Catinat hỏi, lúc ấy bọn mật thám mới xác nhận rằng ông Ninh đã chết...
Vượt qua nỗi đau và mất mát quá lớn, bà Sáu tiếp tục đi vận động kinh phí để ra báo. Sau hiệp định sơ bộ, bà nhận làm chủ nhiệm tờ báo Phụ Nữ - một công việc đầy nguy hiểm lúc bấy giờ và tổ chức vận động thành lập Hội Phụ nữ VN, Hội Công thương gia, Hội Liên - Việt Sài Gòn - Chợ Lớn và bà trở thành Hội trưởng Phụ nữ, Ủy viên Thường vụ Hội Liên Việt cho đến lúc bị lộ, phải đi thoát ly…
Vào chiến khu, bà tiếp tục được bầu vào Ủy viên Chấp hành Phụ nữ tỉnh Rạch Giá - Phụ nữ Nam bộ - Phó chủ tịch Mặt trận Liên Việt Nam bộ. Bà tham gia Quốc hội khóa 2 và khóa 3, là ủy viên T.Ư MTTQ VN. Mãi 30 năm sau ngày ông Ninh đi vào cõi vĩnh hằng, bà mới có dịp “gặp lại” ông để rơi những giọt nước mắt trùng phùng. Với bà, ông Ninh không mất đi mà hiện hữu ngay trong cuộc sống của bà, trong những việc bà làm, những điều bà nghĩ. Bà tâm sự: “Tôi đã được các anh lãnh đạo TP.HCM mời cùng ra Côn Đảo thăm mộ anh Ninh. Đó là niềm mong ước nung nấu lòng tôi suốt từ ngày anh ra đi mà tôi không được cùng anh chia tay. Vậy mà thắm thoát đã hơn 30 năm rồi”.
Sau đó, ngày 3.12.1983, trái tim bé nhỏ chứa một tình yêu vĩ đại của bà với Nguyễn An Ninh cũng vĩnh viễn ngừng đập...


Nữ danh xứ Nam Kỳ: Thiếu nữ cải trang nam đi làm cách mạng

Thời mà người phụ nữ bị trói buộc trong xó bếp và khuôn chặt trong quan niệm "tam tòng tứ đức", bà Bảo Lương Nguyễn Trung Nguyệt đã dám cắt phăng mái tóc đẹp, cải nam trang cùng 5 người trốn xuống tàu, vượt biển sang Trung Quốc, để được dự lớp học chính trị đặc biệt do Nguyễn Ái Quốc đào tạo.

 
Bảo Lương Nguyễn Trung NguyệtBảo Lương Nguyễn Trung Nguyệt
Bà trở thành một trong những hội viên đầu tiên của Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội. Sau này cũng chính bà là người đặt những viên gạch đầu tiên xây dựng Hội Phụ nữ giải phóng ở Nam bộ.
Bảo Lương Nguyễn Trung Nguyệt sinh vào ngày rằm tháng 2 năm Kỷ Dậu (1909), tại làng Bình Đại (tỉnh Mỹ Tho). Cha mẹ đặt tên Trung Nguyệt với niềm mong ước khi lớn lên bà sẽ là một cô gái xinh đẹp, tiết hạnh sáng rỡ như vầng trăng đêm rằm. Năm 12 tuổi, gia đình dời về Rạch Giá lập nghiệp. Cuộc sống cơ cực trôi qua nhờ sự tháo vát, thương khó của cha mẹ, bà trở thành số ít bé gái được học Hán văn với ông ngoại và cha, học chữ quốc ngữ với người chú. Nhờ sớm có khiếu văn chương nên từ nhỏ bà đã xướng họa thơ cùng cha trong những lúc nhàn tản. Năm 14 tuổi, bà đã nổi tiếng hay chữ, giỏi thơ phú trong vùng. Ở tuổi 16, tên tuổi bà đã vượt ra khỏi tỉnh lẻ, được giới thiệu và đăng thơ trên những tờ báo lớn ở Sài Gòn. Do lớn lên trong cảnh mất nước nhà tan nên cha bà nung nấu trong lòng nỗi căm thù giặc Pháp sâu sắc. Trong những lúc xướng họa thơ, chơi cờ, ông thường thủ thỉ với con gái: “Con có biết không, Tây tặc đã cướp mất nước của mình rồi".
Nhiều gia đình địa chủ giàu có, thân Pháp cầu hôn Trung Nguyệt, nhưng cha bà từ chối vì không muốn gả con gái cho loại người ấy. Bà bộc bạch trong hồi ký: "Dài theo tháng năm khôn lớn của tôi, được ông cha căm hận thực dân rèn luyện hiểu biết thêm sự tham ác của ngoại bang để thâm thù bọn xâm lược ngày càng cao độ. Dai dẳng suốt hai năm tranh chấp thành kiến của gia đình, đã phá thành trì lễ giáo bền hơn bất cứ loại sắt đá hữu hình nào, gạt bỏ chi tiết vụn vặt khổ tâm của nếp sống người con gái mà phong kiến còn lưu lại chặt chẽ với bốn bức tường "khuê môn bất xuất", tôi bạo phổi "xuất môn". Trong lúc cha của bà ngâm nga khoe với những người bạn về bài thơ đầy khí khái của con gái mới làm ở nhà Hội Khuyến học Phước Long, thì ở nhà, hai người em của Bảo Lương đã giúp chị chuyển hành lý trốn nhà ra đi một cách an toàn.
Bảo Lương không khỏi lo âu, sợ hãi trước tự do và sự chọn lựa của mình: "Bây giờ thì tôi thong dong dưới phòng tàu Đồng Sanh cách nhiều cây số ngàn rồi, chắc chắn là tôi được tự do đi tìm con đường cách mạng… Nhưng lòng tôi băn khoăn, man mác, ngẩn ngơ như chim lạc tổ bàng hoàng. Tôi soạn mau trong trí nhớ những lời căn dặn của mẹ tôi nói những ngày thường nhật".
Đến Sài Gòn, bà ở nhờ nhà ông Tôn Đức Thắng. Rồi bà nôn nóng đi tìm ông Mai Bạch Ngọc, rể bà Sương Nguyệt Anh để học hỏi… Bà không ngờ bầu máu được dấn thân cho lý tưởng độc lập đất nước thấu đến Tổng bộ Thanh niên cách mạng đồng chí hội. Tổ chức chọn Bảo Lương sang Quảng Châu, Trung Quốc dự khóa học chính trị do Nguyễn Ái Quốc chủ trì. Bà sung sướng đến rơi nước mắt khi nhìn thấy phía trước một thế giới đang rộng mở, một thế giới mà từ lâu tầm mắt bà bị che khuất bởi bốn bức tường…
Tuy nhiên, do Bảo Lương là một thiếu nữ có nhan sắc nên mọi việc không dễ dàng, khi tổ chức đưa một thiếu nữ xuống tàu một cách bí mật cùng 5 thanh niên một người đã có sáng kiến nên cải nam trang cho Bảo Lương, bởi nếu là đàn ông đi cùng nhóm thì sẽ ít bị chú ý và nghi ngờ hơn.
Con tàu mỗi lúc mỗi xa bến, sóng vỗ miên man, ngầu bọt. Xóm làng thân thương xa dần, bất giác Bảo Lương nhớ nhà vô kể. Và rồi những ngày trên đất Quảng Châu đã tôi luyện cho cô gái đa cảm ấy một ý chí sắt đá. Bà đã học được nhiều bài học quý giá từ cách vận động quần chúng, tập diễn thuyết trước họng súng kẻ thù, những đêm trắng giằng xé để chọn lựa tình riêng và lý tưởng đại cuộc. Và điều cô đau đớn hơn tất cả phải hy sinh mối tình đầu tuyệt đẹp để trở về Tổ quốc, khi sứ mạng còn trĩu nặng trên đôi vai. Con người đa cảm, khao khát được yêu thương, được sống trong hạnh phúc của Bảo Lương luôn bị nén lại. Cô đã gác những thi hứng dào dạt, trữ tình để viết những bài thơ kêu gọi nữ quyền khi phụ trách mục nữ giới trên tờ báo Thanh Niên.
Năm 1928, Bảo Lương về nước trên một chuyến tàu bí mật. Nhiệm vụ của tổ chức giao phó trĩu nặng trên đôi vai là phải vận động xây dựng cho bằng được tổ chức Hội Phụ nữ giải phóng ở Nam bộ.
Bảo Lương bị bắt trong một vụ án ở đường Barbier (Lý Trần Quán), bị kêu án 10 năm tù. Địa ngục trần gian với những đọa đày nghiệt ngã, vượt lên những ngón đòn tra tấn dã man, người con gái với tâm hồn đa cảm chợt trở nên đầy khí phách, dũng cảm.
Bảo Lương ra tù năm 1937, lách mình ra khỏi sân khấu chính trị để làm một người vợ, người mẹ bình thường sau khi đã làm tròn vai trò tiên phong đáng khâm phục của người Phụ nữ một thời dám bức ra khỏi bốn bức tường lễ giáo phong kiến, dấn thân cho lý tưởng cách mạng. Bà mất năm 1976.
Năm 2000, nhờ dành dụm được ít lộ phí, tôi quyết làm một chuyến sang Quảng Châu, tìm lại những nơi in dấu chân bà Bảo Lương đã đi qua. Khi đến ngôi nhà 250 Văn Minh (xưa là số 13 Văn Minh), tôi chạm vào từng bậc cửa, từng bậc cầu thang, chiếc giường, bộ bàn ghế, vật dụng năm xưa bà đã học tập, làm báo Thanh Niên. Quảng Châu bây giờ đã quá khác xưa nhưng vẫn gợi cho tôi bao xúc cảm về một người phụ nữ gan dạ này.


Nữ danh xứ Nam kỳ - Kỳ 3: Người cô “đặc biệt” của Giáo sư Trần Văn Khê

Trần Ngọc Diện là ai? Bà có công trạng gì mà TP.HCM có một con đường đặt tên bà ở Q.2.
Các thành viên gánh hát “Đồng nữ” - Ảnh: T.LCác thành viên gánh hát “Đồng nữ” - Ảnh: T.L
“Cô Ba tôi tên là Trần Ngọc Diện. Ngọc Diện tức là mặt đẹp như ngọc, chớ không phải Ngọc Viện như nhiều người lầm tưởng. Do khi đi làm khai sanh, người trích lục ghi nhầm nên từ Ngọc Diện bị đổi thành Ngọc Viện. Cô ba tôi rất không vui vì sự nhầm lẫn này”. Mở đầu câu chuyện, GS Trần Văn Khê đã đính chính cho họ tên người cô ruột.
Thế hệ ngày nay biết về bà chỉ trong mấy dòng sơ lược khi đọc quyển sách Phụ nữ Nam bộ thành đồng do Bảo tàng Phụ nữ biên soạn và ấn hành năm 1989: “Đoàn hát “Đồng nữ” được tổ chức năm 1927 tại tỉnh Mỹ Tho do bà Trần Ngọc Viện (cô ba Viện)... Cô Ba từng là giám thị của một trường nữ công tại Sài Gòn, rất khéo tay trong thêu may, nấu nướng mà lại am hiểu âm nhạc dân tộc. Chủ trương của tổ chức Thanh niên cách mạng đồng chí Hội đưa cô ba Viện ra lập đoàn hát “Đồng nữ” một mặt để làm tài chánh cho đoàn thể, mặt khác để tuyên truyền yêu nước và vận động phụ nữ tham gia cách mạng...”.
Theo GS Trần Văn Khê, đó là người phụ nữ sinh ra trong một gia đình có truyền thống âm nhạc. Ngoài tài may vá, thêu thùa, cô Ba Diện còn có tài đờn tranh, đờn tỳ bà rất hay. Sau khi lấy chồng, sinh con đầu lòng không nuôi được, chồng cũng chết vì bệnh thời gian sau đó, cô Ba trở thành giáo viên dạy nữ công gia chánh trong trường Áo tím. Ông nội mất, cậu bé Trần Văn Khê buồn rầu, bỏ ăn, ngồi khóc suốt ngày. Thương cháu, cô Ba đưa cậu bé lên Sài Gòn. Mỗi khi đi dạy, sợ cháu không ai chăm sóc cô mang đi theo. “Nhờ vậy mà tôi được mấy chị nữ sinh thay phiên nhau ẵm và chọc cho tôi “nói lẽ”. Trước kia, ông nội tôi dạy hễ ai hỏi “Em đi học sau này lớn lên làm gì?” thì tôi trả lời: “Em học để lớn lên giúp nhơn quần xã hội”. Các chị cười to thích thú và tôi cứ tiếp tục trả lời như con két. Nhưng có lẽ những lời nói ấy cũng phần nào thấm vào tiềm thức của tôi, nên đến khi khôn lớn, trong việc chọn môn học hay công việc làm, tôi luôn nghĩ đến lợi ích chung hơn là lợi ích cho riêng mình”.
Năm 1926, đám tang cụ Phan Chu Trinh đã trở thành cuộc biểu dương lực lượng to lớn của phong trào yêu nước ở Sài Gòn và lục tỉnh, lôi cuốn hàng chục ngàn thanh niên, trong đó có nhiều phụ nữ. Cô Ba Diện vì tham gia đám tang mà không được tiếp tục dạy học nữa. Do giỏi nữ công gia chánh lại am hiểu âm nhạc dân tộc nên cô được tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng động chí Hội giao nhiệm vụ lập gánh hát “Đồng nữ”.
GS Trần Văn Khê kể tiếp: “Cô Ba tuyển đào kép nữ trong những gia đình nông dân; vừa là bầu gánh, vừa đạo diễn, tự thiết kế và may tất cả xiêm y. Cậu Năm tôi - ông Nguyễn Tri Khương - và một người gọi là thầy Hai vừa đặt tuồng, vừa dạy võ cho các chị. Gánh hát có chị Năm Trần Thị Ơi coi về kỷ luật, chị Tư Cầm và chị Ba Nhàn lo về quần áo và ăn uống cho cả gánh, anh ba Trần Văn Hòe lo việc bảo vệ và trật tự. Gánh hát lưu diễn khoảng hơn một năm từ làng đến tỉnh, từ tỉnh đến Sài Gòn, được khán giả rất ưa thích nhưng luôn bị bọn mật thám theo dõi. Đến năm 1929, chính quyền thuộc địa ra lệnh cấm gánh “Đồng nữ” hoạt động. Cô Ba chia xiêm y, dụng cụ cho diễn viên và về ở nhà ba má tôi tại Vĩnh Kim”.
Dưới sự bảo bọc của cô Ba Diện, cậu bé Trần Văn Khê dần dần trưởng thành, lên Sài Gòn học Trường Trương Vĩnh Ký, rồi ra Hà Nội học ĐH Y khoa. Năm 1943 ông về Nam, tham gia phong trào Cách mạng Tháng Tám. Dòng đời đưa đẩy ông rời Tổ quốc, phiêu bạt trên khắp vùng đất trên thế giới, mang theo hồn âm nhạc dân tộc truyền bá muôn phương... Trong vô vàn kỷ vật quý giá suốt cuộc đời gần một thế kỷ của mình, ông coi bức ảnh người mẹ kính yêu đã hy sinh tuổi xuân mình cho đại cuộc và cảnh cô Ba Diện chụp cùng chị em gánh hát “Đồng nữ” như tài sản vô giá.
“Tháng 6 năm 1994 tôi về thăm cô. Cô gặp tôi rất vui và nói rằng: “Cô thèm được nghe con hòa đờn với cậu Năm một lần, coi như tế sống cô vậy!”. Để làm vui lòng cô, hai cậu cháu cùng hòa đờn tài tử những điệu như: Nam xuân thanh thản, Nam ai u buồn... Khi trở lại điệu Bắc là điệu vui để kết thúc, nhìn cô đau ốm nằm trên chiếc ghế gật gù thưởng thức nhạc, hai cậu cháu nước mắt đầm đìa... Lần hòa đờn này để lại ấn tượng suốt đời, tôi đau lòng nghĩ rằng đây có lẽ là lần cuối cùng tôi còn được đờn cho người mà mình thương quý nhất nghe. Cô Ba tôi không còn, từ đó căn nhà lá tại Vĩnh Kim nhờ mấy người chị bà con trông nom. Sau này, do bận nhiều việc nên tôi cũng chưa có dịp trở về thăm lại căn nhà đầy kỷ niệm thời thơ ấu trước khi sang Pháp...”, GS Trần Văn Khê rưng rưng.
Bất ngờ khi nghe tôi nói ở Q.2 có con đường mang tên Trần Ngọc Diện, mắt ông rực sáng. Ông muốn đến tận nơi và được đi trên con đường vinh danh tên tuổi người cô ruột của mình. Khi đứng dưới tấm biển đề tên Trần Ngọc Diện, kỳ lạ thay, tôi nhìn thấy khoảnh khắc thời thơ ấu trong ông bỗng ùa về trong dáng vẻ từng trải, lịch lãm của một con người nổi tiếng khắp thế giới, bỗng hình dung ra căn nhà lá trong vườn vú sữa Lò Rèn ở Vĩnh Kim năm nào, có cậu bé Trần Văn Khê đã nhiều lần phụng phịu khi bị cô Ba mắng yêu.


Nữ danh xứ Nam kỳ - Kỳ 2: Nữ bác sĩ đầu tiên của Sài Gòn

Năm 2004, từ Pháp, anh Nguyễn Ngọc Châu gọi điện báo tin bà Henriette Bùi sẽ về VN và rất mong tôi có được cuộc gặp gỡ với bà. Năm ấy, bà đã 99 tuổi mà vẫn trang điểm kỹ, ăn mặc lịch sự, đĩnh đạc trong phòng khách.


Bà Henriette Bùi (1906 - 2012) - nữ bác sĩ y khoa đầu tiên của Sài Gòn
Bà Henriette Bùi (1906 - 2012) - nữ bác sĩ y khoa đầu tiên của Sài Gòn
Anh Châu - tổng giám đốc một chi nhánh ngân hàng đầu tư vào các dự án lớn ở khu vực châu Á, định cư tại Pháp hơn 25 năm tỏ ra rất vui khi gặp tôi ở TP.HCM: “Rất cám ơn cô, tác giả của Đêm trắng của Đức Giáo tông. Nhờ quyển sách mà tôi biết về gia tộc của mình nhiều hơn. Cũng thật đáng tiếc vì cô không gặp được má Năm Henriette Bùi và bà đốc phủ Vàng - những nhân chứng năm xưa. Là những người trong cuộc, tôi đoán chắc, cả hai bà má của tôi còn biết rất nhiều điều mà cô không thể biết”.
Đó là vào tháng 9.2002.
Anh nói: “Tôi là kết quả mối tình ngang trái. Năm 1943, Nhật đảo chính Pháp. Papa tôi lúc bấy giờ là kỹ sư Nguyễn Ngọc Bích, đang phụ trách xây dựng một công trình thủy lợi ở Sóc Trăng. Đối diện với công trình là trường dạy nữ công gia chánh. Khi Nhật bỏ bom, ông báo động cho trường nữ công xuống hầm tránh bom. Sợ các cô bị dơ chân khi phải vượt qua chặng đường do công trình thi công còn ướt bùn sình, ông lấy chiếu lót đường cho các nữ sinh xuống hầm trú ẩn. Cảm động vì sự “ga lăng” ấy mà bà Bạch Mai - hiệu trưởng sai cô học trò yêu của mình là Phan Ngọc Huế làm ổ bánh thật đẹp, thật khéo mang sang cám ơn ông. Vẻ đẹp của cô đã làm ông sững sờ... Mối tình ngang trái bắt đầu từ đó. Rồi tôi ra đời. Nhưng papa tôi vốn có tình cảm sâu đậm với má Năm Henriette Bùi, từ những ngày du học bên Pháp nên không thể chung sống với mẹ tôi. Không thể kéo dài được tình cảnh nhùng nhằng, mẹ tôi vì danh dự gia đình ấy phải đi lấy chồng. Papa đành gửi tôi cho bà bạn thân là bà đốc phủ Vàng nuôi giùm. Tự dưng còn độc thân lại nhận một đứa bé làm con nuôi, má đốc phủ Vàng không khỏi hứng chịu những lời xì xào phía sau lưng. Tôi lớn lên, luôn tự hào nói nó có ba người mẹ. Đó là người mẹ đã sinh ra tôi, rồi má Năm Henriette Bùi, má Năm đốc phủ Vàng”.
Kiên quyết mặc áo dài
Phong thái ung dung, tinh thần minh mẫn, bà Henriette Bùi ôn lại những thước phim cuộc đời mình. Năm 14 tuổi bà được cha gửi sang Pháp du học, đậu ĐH Y khoa năm 1926. Sau hai năm thực tập, bà là người phụ nữ VN lấy bằng bác sĩ y khoa đầu tiên ở Pháp. Bà trầm ngâm nói: “Hồi đó, ngay cả ở Pháp, phụ nữ học ngành y cũng rất ít. Ra trường, không ít người bỏ nghề vì phải lấy chồng, sinh con, tôi cũng vậy”. Với bà, đó là mối hôn nhân không hạnh phúc, cho dù gia đình hai bên rất môn đăng hộ đối. Chồng bà là luật sư Dương Văn Nhường, xuất thân trong một gia đình trí thức, giàu có, cháu ruột thái hậu Từ Dũ. Ông chỉ muốn bà ở nhà, lo chuyện nội trợ. Ông tuyên bố: “Tôi là trạng sư, lương đủ cho bà ở nhà, đi chơi”. Bà nói: “Tôi thích làm, không thích chơi”. Bất chấp sự phản đối của ông, bà vẫn đến nhà bảo sanh Từ Dũ hành nghề bác sĩ, chuyên khoa sản và nhi. Ở đây, bà chứng kiến quá nhiều sự bất công. Cùng là bác sĩ, nhưng vì là người Việt dù mang quốc tịch Pháp, bà chỉ được trả lương 100 đồng mỗi tháng, trong khi bác sĩ Pháp được trả 1.000 đồng. Ban giám đốc bệnh viện bắt bà mặc áo đầm đi làm. Bà từ chối, kiên quyết mặc áo dài để khẳng định mình là người VN.
Có ai biết lúc trở về VN, bà đã bỏ lại Pháp mối tình sâu đậm với Ngọc Bích - một trong ba người con trai của Đức Giáo tông Nguyễn Ngọc Tương đã từng cùng bà du học. Vì mối tình dành cho Ngọc Bích mà bà rất đau lòng vâng lời cha lấy người không hề yêu thương làm chồng. Nhưng vốn là người phụ nữ có cá tính, mạnh mẽ, bà luôn gây ra nỗi kinh ngạc cho những người cùng thời. Bà đã dũng cảm làm đơn ly dị chồng. Trước tòa, bà thẳng thắn nói rõ nguyên nhân vì sao bà không thể tiếp tục mối hôn nhân. Bà cũng là người phụ nữ đầu tiên mua và lái xe hơi trên đường phố Sài Gòn trước bao ánh mắt kinh ngạc và ngưỡng mộ. Bà còn là người phụ nữ Sài Gòn đầu tiên lập nên bảo sanh viện tại đường Richeaud (nay là đường Nguyễn Đình Chiểu)...
Năm 1936, khi ông Ngọc Bích tốt nghiệp ngành giao thông công chánh về nước, gặp lại Henriette Bùi ở Sài Gòn, mối tình xưa bùng cháy. Họ quyết định chung sống với nhau, dù gia đình hai bên vì những điều khó xử riêng, không thể làm lễ cưới cho họ. Bà dành cho Ngọc Bích tình yêu sâu thẳm, bao dung. Vì yêu chồng mà bà tôn trọng sự chọn lựa của ông. Dù rất đau khổ khi biết chồng mình có một đứa con trai với người phụ nữ khác nhưng bà vẫn điềm tĩnh, tìm cách giải quyết tốt nhất cho ông. Khi giặc Pháp quay trở lại, ông Bích tham gia Việt Minh, phá cầu ngăn đường tiến quân của Pháp xuống các tỉnh miền Tây Nam bộ, rồi bị bắt trục xuất khỏi VN. Bà lại lặng lẽ gom góp tư trang, đưa chồng về Pháp. Bà mở nhà sách Minh Tâm, động viên chồng tiếp tục học y khoa. Với bản tính thông minh, cần cù, đầy nhiệt huyết với nghề, ông Bích sau này trở thành chuyên gia nghiên cứu bệnh ung thư ở Pháp. Khi biết Ngọc Châu, con trai duy nhất của ông Bích đang ở VN đã bước vào tuổi thanh niên, bà động viên chồng làm thủ tục bảo lãnh qua Pháp, để anh tiếp tục học lên cao và thành đạt. “Người ta yêu nhau không phải vì cái gì cả, chỉ biết là chúng tôi đã yêu thương nhau, cùng nương tựa nhau đi qua những thăng trầm của lịch sử, đời người. Mỗi lần gặp Châu, tôi rất vui, vì đó là phiên bản của chồng tôi. May mà còn có Châu, cuộc sống vẫn kỳ diệu hơn điều người ta nghĩ”.
Sau này, người nữ bác sĩ đầu tiên của Sài Gòn sống trong một nhà dưỡng lão cao cấp ở Pháp. Bà có ý nguyện sẽ dành tặng toàn bộ tiền tiết kiệm cho một tổ chức thiện nguyện. Bà Henriette Bùi qua đời ngày 27.4.2012, hưởng thọ 107 tuổi.


Nữ danh xứ Nam kỳ: Người đẹp mở khách sạn ở Sài Gòn

Tháng 3, tháng có ngày Quốc tế Phụ nữ 8.3, Thanh Niên khởi đăng loạt bài độc quyền của nhà văn Trầm Hương viết về những nữ danh tài ba, xinh đẹp ở xứ Nam kỳ xưa với những câu chuyện độc, lạ, lần đầu tiên được công bố.

  
Nữ danh xứ Nam kỳ: Người đẹp mở khách sạn ở Sài GònĐường Kinh Lấp - Charner, nay là đường Nguyễn Huệ, nơi Chiêu Nam Lầu tọa lạc ngày trước - Ảnh: T.L
Đó là bà Nguyễn Thị Xuyên, một phụ nữ xuất thân từ chốn quê ở Cần Giuộc, Tân An (nay là Long An).
Cha của bà Xuyên là ông Nguyễn An Nghi. Thời vua Tự Đức, lúc Pháp còn cho phép dân Nam kỳ lập đồn điền, ông Nghi bỏ vợ con, một mình từ Bình Định vào Nam lập nghiệp. Ông giỏi Hán học, biết võ nghệ và giỏi nghề bốc thuốc. Khi quân Pháp chiếm Nam kỳ, ông theo nghĩa quân Trương Định. Lúc tướng quân hy sinh, nghĩa binh tan rã, ông về quê vợ thứ hai ở Cần Giuộc, sống trong tâm trạng bất đắc chí. Ông có ba người con với vợ hai là Nguyễn Thị Xuyên, Nguyễn An Khương và Nguyễn An Cư.
Ông Nguyễn An Khương, thân sinh của Nguyễn An Ninh, nhà cách mạng, lãnh tụ của cuộc vận động giải phóng dân tộc những năm đầu thế kỷ 20 ở Nam kỳ, đã đúc kết kinh nghiệm nhiều năm làm nghề giáo, đi và nghe, để viết thành những mẩu chuyện nhỏ về các gương hiếu nghĩa của con cháu đối với cha mẹ, ông bà, rồi in thành cuốn Mông học thê giai. Ngoài dạy học, ông Khương và ông Cư còn chữa bệnh cho dân nghèo không lấy tiền. Lúc rỗi rãi ông Khương dịch sách, nhờ bà Xuyên sắp xếp lại rồi thuê in thành sách. Bộ sách được dịch và in đầu tiên của ông Khương là bộ Tam quốc diễn nghĩa rất được bà con mến mộ.
Vì cảm kích người thầy giáo làng tài đức, ông hội đồng Trương Dương Lợi gả con gái Trương Thị Ngự cho ông Khương. Cô Bảy Ngự tuy nhan sắc không bằng chị bằng em trong nhà nhưng nết na, giỏi giang nổi tiếng xứ Cần Giuộc. Có được cô em dâu như vậy, bà Xuyên rất hài lòng. Lúc cha mất, bà Xuyên mới 30 tuổi, nguyện không lấy chồng, ở vậy suốt đời phụng dưỡng mẹ già và lo cho hai em.
Từ tiệm may biến thành khách sạn
Năm 1899, ông Khương đưa gia đình lên Sài Gòn lập nghiệp. Lúc đầu mướn hai căn phố liền nhau, trên đường Kinh Lấp (nay là đường Nguyễn Huệ) thử mở tiệm may. Tiệm ngày càng đông khách không chỉ nhờ vào đôi bàn tay khéo léo của bà Xuyên và cô Bảy Ngự, mà còn nhờ vào nhan sắc mặn mà, nét nền nã, duyên dáng của bà Xuyên. Họ đặt tên tiệm may là Chiêu Nam Lầu, với ý tứ sâu xa là nơi chiêu hiền đãi sĩ của người VN, nơi gặp gỡ anh hùng hào kiệt ba miền, nơi tá túc của những nhà ái quốc Bắc, Trung lưu lạc vào Nam trong phong trào Đông Du, Duy Tân...
Tiệm may Chiêu Nam Lầu nổi tiếng đến nỗi vua Thành Thái trước ngày bị đày sang đảo Réunion đã bí mật đến may cả chục chiếc áo dài gấm. Thấy nhiều điền chủ, thương gia từ lục tỉnh lên Sài Gòn có nhu cầu nghỉ đêm, chủ nhân Chiêu Nam Lầu cho sửa chữa các phòng tầng trên để làm khách sạn. Công việc kinh doanh khách sạn ngày càng phát đạt nhờ tài tháo vát, nội trợ của cô Bảy Ngự, mẹ nhà yêu nước Nguyễn An Ninh, sau này được truy tặng danh hiệu Bà mẹ VN anh hùng.
Ngoài việc làm ăn giỏi, bà Xuyên còn hết lòng trợ giúp người em trai từ lúc hoạt động phong trào Đông Du của cụ Phan Bội Châu và Hoàng thân Cường Để, đến phong trào Duy Tân rồi Đông Kinh nghĩa thục. Những người yêu nước lui đến Chiêu Nam Lầu đều được bà Xuyên lo lắng chu đáo. Trong số bạn bè của ông Khương đến Chiêu Nam Lầu để mắt đến bà Xuyên, có một vị khách đặc biệt. Đó là Hoàng thân Cường Để. Mỗi khi bí mật về Sài Gòn là ông đến Chiêu Nam Lầu. Nhiều người trêu chọc, bà không thanh minh. Ông hoàng Cường Để cũng chỉ cười, chẳng giải thích. Một buổi trưa vắng khách, bọn Pháp bất ngờ ập đến Chiêu Nam Lầu, vây bắt Cường Để. Lúc đó, ông hoàng đang nằm ngủ trên bộ ván dưới nhà. Thấy có người ở trần nằm ngủ, mặc quần đùi, ngáy pho pho, bọn Pháp nghĩ đó là người làm công nên bỏ đi lùng sục phòng khác. Dưới nhà, bà Xuyên đánh thức ông dậy, đưa quần áo của người làm công cho ông hoàng mặc, rồi đẩy ông vào nhà bếp. Ông Cường Để ngồi rửa chén đĩa, nghe rõ mồn một trên lầu giọng ông Khương trả lời bọn Pháp: “Cường Để không đến Chiêu Nam Lầu”. Chúng xuống tầng dưới, sục vào bếp, ngó không thấy ai có dáng ông hoàng bèn bỏ đi. Đêm đó, bà Xuyên tìm người đưa ông rời khỏi Sài Gòn.
Không chỉ Hoàng thân Cường Để, mà Mangoon, ông hoàng Miến Điện bị bọn cầm quyền Anh thời ấy trục xuất ra khỏi đất nước, cũng là bạn thân của bà Xuyên. Khi sang Sài Gòn, Mangoon được bà cưu mang cho đến chết. Ngày sắp từ giã cõi đời, ông lấy trong người ra một túi nhỏ, trăng trối: “Đây là toa thuốc của hoàng gia để nấu dầu cù là. Bà hãy giữ nó, tôi mang theo để phòng thân khi đói khổ. Đa tạ bà đã giúp tôi, tôi không có gì đền đáp công ơn đó”. Bà Xuyên không ngờ, chính toa thuốc bí truyền ấy sau này đã giúp người cháu của mình là Nguyễn An Ninh một cách đắc lực trên con đường hoạt động cách mạng.
Năm 1926, Nguyễn An Ninh bị Pháp bắt, tiếp theo là đám tang chí sĩ Phan Chu Trinh, Chiêu Nam Lầu trở thành một địa điểm tập họp lực lượng quần chúng nên bị nhà cầm quyền Pháp đe dọa. Trước sự khủng bố, bà Xuyên đành bán Chiêu Nam Lầu, về Hóc Môn cất ngôi nhà nhỏ cạnh nhà Nguyễn An Ninh, nhận một cô gái lai Ấn làm con nuôi. Năm 1940, trước khi xảy ra cuộc Khởi nghĩa Nam kỳ, bà Xuyên lâm bệnh nặng. Lúc đó, Nguyễn An Ninh bị đày đi Mỹ Tho, người cháu dâu đưa đàn con nheo nhóc về Mỹ Tho tìm chồng, bỏ lại vườn xoài Hóc Môn tiêu điều, hoang vắng. Đó cũng là năm địch cho đàn áp, bắt nhiều nhà hoạt động cách mạng. Nhờ người nhắn, bà Sáu (cháu dâu) kịp trở về lo đám tang cô chồng, lập phần mộ bà Xuyên nằm trong khu nghĩa trang gia đình. Sau này chính quyền Ngô Đình Diệm cho san ủi, xây dựng khu gia binh khiến nơi yên nghỉ của bà Xuyên bị thất lạc.


Sài Gòn chuyện đời của phố: Kiếm sống ở Sài Gòn trước 1945

Năm 1941, một thanh niên gần tuổi đôi mươi ở làng Hướng Phương, huyện Quảng Trạch, Quảng Bình vừa thi đậu sơ học yếu lược xong. Lúc đó, trong làng của anh, một số người nhắc đến Sài Gòn là nơi dễ làm ăn, dễ kiếm tiền và hấp dẫn với nhiều thú vui.

Chân dung hồi trẻ của ông Lịnh và trang hồi ký cũ về những ngày kiếm sống ở Sài Gòn -  Ảnh: T.L
Chân dung hồi trẻ của ông Lịnh và trang hồi ký cũ về những ngày kiếm sống ở Sài Gòn
-  Ảnh: T.L
Anh quyết định lên đường khám phá Sài Gòn. Trong suốt hai năm ở lại thành phố này dưới thời Pháp thuộc, anh va chạm với đủ người tốt kẻ xấu, học được những bài học về giá trị của công sức lao động, giá trị của sự trung thực...
Dưới đây là một đoạn hồi ký của người thanh niên năm xưa - ông Đặng Ngọc Lịnh, viết riêng cho gia đình trước khi mất năm 2004 tại California, Mỹ. Trước khi sang Mỹ năm 1994, ông sống tại hẻm 231 đường Lê Văn Sỹ, P.14, Q.Phú Nhuận. Đọc lại phần hồi ký này, ta có thể hình dung phần nào cuộc sống, sinh hoạt, không khí làm ăn cần mẫn của vùng đất Sài Gòn bảy mươi năm trước. Trong đó, luôn có phần cho người nhập cư nào có ý chí vươn lên, thay đổi cuộc sống.
“...Tôi đi Sài Gòn bằng hỏa xa lên ở ga Minh Lễ. Tôi hằng ngày đi lang thang hết đường phố này đến đường phố khác xem ngoài cổng nhà ai có treo giấy mướn người như tôi là vào xin. Đi qua dòng tu kín phía sau nhà Bưu điện Sài Gòn có treo giấy cần một đứa vào làm cỡ tuổi tôi, vào đây xin và được việc. Lại biết trong này có Cu Cư người làng mình nữa.
Công việc của tôi như sau: Sáng 4 giờ ra giúp xà ích cho xe ra, cặp ngựa vào và lên xe ngồi với một bà phước người Pháp, mập, nói sọi tiếng Việt, ra chợ Bến Thành xách giỏ cho bà phước ấy đi các hàng trong chợ mua thực phẩm. Đầy giỏ, tôi đưa ra xe và lúc đó đã mua xong lại lên xe trở về nhà như cũ. Ngoài việc đi chợ buổi mai, cả ngày nhổ cỏ ở các bồn hoa và ngoèo xoài trong vườn tu viện. Lương tháng 10 đồng Đông Dương.
Tôi làm được độ nửa năm vẫn lương 10 đồng. Một buổi sáng tôi ngủ quên ra trễ không kịp giúp thắng xe ngựa, bị bà phước ấy cự, tôi cự lại... và thấy việc xách giỏ cho bà phước đi chợ chẳng thú gì cho tuổi bước vào thanh niên đầy hứa hẹn này. Tôi xin thôi việc.
Lại đi lang thang kiếm việc. Đến một nhà máy cà rem, có dán giấy cần người. Tôi vào xin và được việc. Làm phụ người thợ chính làm cà rem cây. Làm được ít lâu, hình như lương tháng 15 đồng Đông Dương. Sau đó không lâu, ông chủ ở Đa Kao đưa giấy lại, biểu các thanh niên trong hãng thi một bài chánh tả ngắn chữ Việt. Bốn năm thanh niên chỉ có tôi và anh Cương biết viết. Tôi, anh Cương viết bài dự thi. Qua ngày sau có xe đến và cho biết là tôi đậu, lên xe về Đa Kao làm việc khác. Ông chủ này là chủ tiệm cà rem và chỗ tôi đến là nhà hàng ăn, tức là gia đình ông chủ ở nhà sau. Ông người Việt nhưng nói tiếng Pháp như tiếng mẹ đẻ, có hai vợ là chị em ruột, bà nào cũng có con bồng cả. Tuy là chị em ruột nhưng ghen nhau quá cỡ. Tôi được ông chủ và hai bà chủ mến lắm vì thấy tôi khôi ngô và chất phác. Giao cho tôi hai việc rõ ràng:
Sáng độ 2 giờ ra phía trước đợi hai xích lô mối, khi hai xe này đến thì vào báo tin cho ông chủ. Ông chủ lên xích lô trước, tôi lên xích lô sau, qua nhà máy nước đá Khánh Hội. Đến đây, ông chủ đứng đợi còn tôi đến nhà người gác máy lấy chìa khóa mở cửa vào. Ông chủ ngồi bàn xem sổ sách và xem báo. Tôi ngồi một bàn nhỏ ghi chép vào sổ các xe ngựa đến nhận nước đá của hãng.
Xong việc, trời vừa sáng, tôi và ông chủ lại lên xích lô về nhà hàng ăn. Về đây ăn sáng xong là tôi phụ người bồi chính mở cửa hàng và dọn các bàn ăn. Cả ngày khách Việt, Pháp vào ăn rất đông. Nhà hàng này ở đối diện rạp ciné Đakao. Tôi phụ với anh bồi chính sẹc-via cho khách suốt ngày. Lúc khách để lại tiền lẻ cho bồi gọi là puốc-boa (pourboires), tôi phải giao cho bồi chính hưởng, tôi không được gì.
Có một buổi sáng anh bếp hàng ăn đến biểu tôi về theo. Khi về đến nhà, nó biểu tôi mở rương ra để khám, có sự chứng kiến của hai bà chủ và các người trong nhà. Tôi mở rương cho khám, chẳng có gì khác ngoài áo quần và ít tiền lẻ của tôi. Tôi hỏi tại sao khám rương tôi, tên đầu bếp nói là đêm ấy nó mất áo quần và tiền bạc, nghi tôi lấy. Thấy anh bồi chính và anh bếp đa nghi không đúng chỗ thì có ngày tính nóng trực của tôi sẽ có chuyện nên xin thôi việc.
Tôi lại đi lang thang kiếm việc. Đến nhà hàng ăn Khánh Hội, gặp hai anh em người Pháp chưa vợ là chủ nhà hàng (nó nói giỏi tiếng Việt), nhà hàng thiếu hai chỗ bồi. Tôi về rủ chú Đính về cùng làm.
Có một đêm đi qua rạp hát lớn tại đường Tự Do, chú Đính rủ tôi vào xem. Không biết đường nên chui vào lô riêng trên gác của viên Toàn quyền Đông Dương đang xem hát. Họ nghi là hai tên thích khách nên bọn lính kín và cảnh sát gác bảo vệ cho Toàn quyền bắt hai chú cháu tống vào Khám lớn mấy ngày. Truy mãi chỉ thấy là hai thanh niên vô sự xem hát vào coi cóp lạc chỗ mới tha. Chú Đính không biết có bị không, còn tôi bị mấy loi đau nhớ đời đến nay vẫn còn nhớ cảm giác đau.
Về nghỉ nhà anh chị Đạo vài ngày, tôi lại đi lang thang tìm việc. Tôi làm bồi cho vợ chồng anh Tây trên đường Tự Do, khu nhà bảy tầng. Lương tháng 40 đồng Đông Dương. Lúc đó 40 đồng đối với số người đi làm thuê là hạng cao đấy.
Tôi ở Sài Gòn độ 2 năm, khoảng 1941 - 1943. Làm ăn tiêu rồi còn dư gửi về nhà độ 200 đồng đến 300 đồng. Lúc tôi đi Sài Gòn, cha làm cái nhà ngói, còn hai mái ngói Tây ấy là do tiền tôi gửi về, lúc ấy 100 đồng Đông Dương là quý lắm”.


 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons