Thứ Năm, 30 tháng 4, 2015

“Sài Gòn sau 40 năm” dưới cách nhìn của nhạc sĩ Quốc Bảo

 Là người được sinh ra, lớn lên và chứng kiến sự thay đổi của Sài Gòn suốt 40 năm từ sau giải phóng, nhạc sĩ Quốc Bảo luôn dành riêng một góc đặc biệt trong tim mình cho thành phố tri kỷ này.


Sài Gòn là một thành phố ồn ào
Anh là người sinh ra và lớn lên tại Sài Gòn, anh có thể chia sẻ cảm nhận của anh về Sài Gòn?
Sài Gòn khác hẳn các thành phố khác ở Việt Nam là tiếng ồn - tiếng ồn đô thị. Theo tôi, đây là đặc trưng của Sài Gòn. Từ khi tôi chưa sinh ra, Sài Gòn đã là thành phố ồn ào nhất. Như bác Phạm Duy nói: “Khi chuyển từ Hà Nội vào Sài Gòn sinh sống, những ngày đầu không ngủ được vì ban đêm vẫn có tiếng động”. Thời đó còn như thế, huống gì bây giờ.
Điều đặc trưng nên khi đi đến nơi khác bạn sẽ cảm thấy dễ chịu hơn - đồng thời cũng sẽ nhớ Sài Gòn hơn. Những tiếng động liên tục, đến nỗi bạn sẽ cảm thấy không bao giờ Sài Gòn im lặng được. Khi bạn bước vào nơi cách âm hoàn toàn, tưởng như tiếng ồn đã biến mất nhưng thực chất tiếng ồn vẫn còn trong đầu bạn. Nếu đã chọn sống ở Sài Gòn thì bạn phải sống chung với tiếng ồn đó.
Anh là người chứng kiến sự thay đổi của Sài Gòn từ 40 năm trước đến giờ, cảm nhận anh như thế nào về sự thay đổi này?
Sài Gòn liên tục thay đổi, như những âm thanh vậy, luôn luôn biến đổi. Sài Gòn là đô thị vận động lớn nhất, mạnh nhất và tích cực nhất trong những đô thị Việt Nam. Một phần vì đây là một thành phố lớn, một phần do sự nhập cư liên tục của cư dân từ nơi khác tới. Trong suốt chiều dài lịch sử 300 năm luôn có những người mới tới - sự thay đổi là tất yếu. Sự thay đổi của Sài Gòn gần như là thuộc tính gắn chặt với Sài Gòn, nhắc đến Sài Gòn là sẽ biết nó thay đổi.
Đôi khi tôi chỉ vắng mặt 1 tuần thì trở về tôi cũng thấy Sài Gòn đã khác.
Sài Gòn hôm nay dưới góc ảnh của nhạc sĩ Quốc Bảo
Sài Gòn hôm nay dưới góc ảnh của nhạc sĩ Quốc Bảo
Với riêng anh thì sự thay đổi đó có tốt không?
Tôi thấy đây là sự tích cực và nó nên như vậy. Nếu một thành phố cổ thực sự để bảo tồn thì nó là chuyện khác. Còn ở đây, Sài Gòn không phải là thành phố như vậy. Nó là thành phố của sự thay phát triển. Có thể phát triển sai, có thể có nhiều cái rất ‘dở’, nhưng rồi nó sẽ tiếp tục vận động để tốt dần lên.
Đôi khi trong những điều anh viết, có thể cảm thấy thấp thoáng sự tiếc nuối vì Sài Gòn đang phát triển và dần mất đi những gì thân thuộc?
Chắc chắn trong sự thay đổi bao giờ cũng có sự "méo mó". Không phải ai cũng ý thức được một cách tốt nhất ta "cần giữ cái gì"và ta ‘cần sửa cái gì’. Do đó với ‘cặp mắt’ của cư dân sống quá lâu ở Sài Gòn như tôi thì đôi khi, tôi luôn cảm thấy tiếc những khung cảnh cũ. Nhưng rõ ràng, có thể khung cảnh cũ nó còn nguyên như thế, chưa chắc tôi sẽ hạnh phúc hay ngày nào cũng để tâm đến nó. Nhưng khi nó mất đi rồi, tôi lại cảm thấy tiếc.
Anh thích nhất điều gì ở Sài Gòn?
Sài Gòn có được điều quan trọng là "năng lượng tích cực". Năng lượng tích cực đó có được từ mỗi cư dân, mỗi đợt người mới khi họ tới. Họ sẽ mang theo năng lượng sống của họ và họ sẽ làm cho thành phố luôn luôn vận động đi lên. Nói chung đây là thành phố rất vui (cười).
Sài Gòn những năm trước đây qua góc nhìn của nhạc sĩ Quốc Bảo
Sài Gòn những năm trước đây qua góc nhìn của nhạc sĩ Quốc Bảo
Sài Gòn những năm trước đây qua góc nhìn của nhạc sĩ Quốc Bảo

Những điều anh không thích về Sài Gòn là gì?
Những điều tôi không thích về Sài Gòn còn dài gấp đôi những gì tôi thích. Nhưng không vì điều đó mà tôi bỏ Sài Gòn đi. Cũng tương tự như tình yêu, trong tình yêu không phải yêu người đó vì họ hoàn hảo. Nếu họ có 20 điều hay và 2 điều dở mà không yêu. Thậm chí họ có 20 điều dở và 1 điều hay thì ta vẫn yêu.
Cụ thể một vài điểm mà anh không thích?
Điều thứ nhất - người Sài Gòn mau quên, vì nhịp sống nhanh và gấp quá, họ ít khi nào hồi nhớ quá khứ hay nhớ kỷ niệm. Họ không giữ sự nồng ấm trong tình cảm đối với những cá nhân. Nói như thế không có nghĩa là người Sài Gòn bội bạc, mà họ lại sẵn sàng đón nhận điều mới.
Điều thứ hai - Sài Gòn rất ồn ào. Trong một số trường hợp nó cũng sẽ gây mệt mỏi.
Điều thứ ba - Sài Gòn quá rộng lớn so với các thành phố khác. Đi từ điểm đầu đến điểm cuối của Sài Gòn rất xa.
Thứ tư - mật độ giao thông kinh khủng quá. Đó là những điều khó chịu tôi cảm nhận ở Sài Gòn.
Sài Gòn là nơi đáng sống
Trong những tác phẩm âm nhạc của mình, anh có dành tình cảm nào đó cho Sài Gòn?
Với tôi, có một ca khúc tạm gọi là thành công mà tôi đã viết cho Sài Gòn làTình ca phố. Ngoài ra các bài hát khác tôi đều viết trong tâm lý của người Sài Gòn, và hầu hết là được viết tại Sài Gòn. Cảm nhận âm thanh, cảm nhận sự biến đổi, cảm nhận không khí Sài Gòn để viết.
Anh có thể chia sẻ kỷ niệm của anh về Sài Gòn năm 1975?
Năm 1975, tôi chỉ mới 8 tuổi, toàn bộ gia đình tôi không có ai ra nước ngoài vào năm đó, tất cả vẫn sống ở Sài Gòn bình thường. Và dĩ nhiên có những xáo trộn trong đời sống khi Sài Gòn đổi tên là thành phố Hồ Chí Minh, khi Sài Gòn được giải phóng. Nhưng với tâm trạng và sự hiểu của 1 đứa bé 8 tuổi, tôi chỉ cảm nhận được có sự gì đó khác đi, không giống đời thường. Dĩ nhiên, người lớn có những lo lắng của họ, còn bản thân tôi thì không hiểu chuyện gì đang xảy ra thời điểm này.
Và sau này, khi lớn dần lên thì tôi cảm thấy Sài Gòn vẫn là nơi đáng sống. Tôi quyết định sẽ sống trọn đời tại Sài Gòn.
Những góc phố của Sài Gòn luôn gợi lên nhiều ký ức trong lòng nhạc sĩ Quốc Bảo
Những góc phố của Sài Gòn luôn gợi lên nhiều ký ức trong lòng nhạc sĩ Quốc Bảo
Những góc phố của Sài Gòn luôn gợi lên nhiều ký ức trong lòng nhạc sĩ Quốc Bảo
Anh có thể chia sẻ thế hệ trẻ hiện tại của Sài Gòn so với thời của anh có sự thay đổi như thế nào? 
Từ tôi đến các bạn trẻ bây giờ đã cách xa nhau hơn một thế hệ. Có 1 sự chuyển giao giữa thế hệ tôi và thế hệ mới - sự chuyển giao về mặt công nghệ. Thế hệ trẻ bây giờ đang sống trong thời đại công nghệ, trong khi thế hệ trẻ của chúng tôi – thế hệ hậu chiến thì hoàn toàn không. Giữa 2 thế hệ đó đã khác biệt rất nhiều. Về suy nghĩ, lối sống, hoàn cảnh sống, và cả điều kiện môi trường.
Không thể nói rằng chúng tôi hay hơn, hay các bạn hay hơn. Chỉ có điều, bây giờ tôi vẫn còn sống cùng với những thế hệ đó. Tôi nhìn thấy thế hệ công nghệ cũng có những điểm tốt, hay, nhưng đồng thời cũng có những điểm không hay bằng  những thế hệ trước, trong những điều kiện khó khăn hơn rất nhiều. Bây giờ là các bạn sống nhanh quá, không kịp suy nghĩ, đang bị cuộc sống đẩy đi.
Rồi đến một lúc nào đó, các bạn sẽ cảm thấy mất một số giá trị mà lẽ ra nếu cực khổ hơn một chút, ít điều kiện hơn một chút thì có thể các bạn sẽ hưởng được những giá trị đó. Chẳng hạn như những giá trị về mặt gia đình, về tình cảm, bạn bè, thậm chí là về thành phố - nơi các bạn đang sống. Nếu các bạn sống nhanh quá các bạn sẽ không cảm nhận được. Không thấy điều gì đọng lại trong mình.
Anh có nghĩ đó là sự thiệt thòi của các bạn trẻ thế hệ bây giờ?
Tôi cũng đã nói, có thể sau này các bạn sẽ tiếc, tại sao mình không nghĩ đến những chuyện đó, sao mình lại quá vội như vậy.
Nhưng anh có nghĩ một phần là do các thế hệ đi trước đã không giữ được lửa và truyền thụ những điều này cho các thế hệ đi sau?
Không thể truyền nổi, một đứa trẻ khi còn lên 5, lên 3 thì có thể dạy được, một đứa trẻ đã 13,14 tuổi thì sẽ có cuộc sống riêng và phát triển theo điều kiện của nó. Với điều kiện hiện giờ, với hoàn cảnh môi trường và toàn bộ thế giới đều như vậy, một đứa trẻ trưởng thành trong thời đại bây giờ sẽ sống nhanh hơn chúng tôi.
Sài Gòn đã đươc anh đưa vào quyển sách của mình với một vị trí đặc biệt
Sài Gòn đã đươc anh đưa vào quyển sách của mình với một vị trí đặc biệt
Sài Gòn đã đươc anh đưa vào quyển sách của mình với một vị trí đặc biệt
Anh là người gắn bó với thế giới showbiz của Sài Gòn trong khoảng thời gian dài như viết báo, chụp ảnh, anh có thể chia sẻ về những thế hệ nghệ sĩ của Sài Gòn?
Nếu đi ngược về trước thì nghệ sĩ Sài Gòn hàng đầu thì Cẩm Vân, Bảo Yến, Ngọc Ánh… Tiếp theo là thế hệ Phương Thanh, Lam Trường, Đan Trường… Cùng lúc đó là cũng có làn sóng các ca sĩ Hà Nội: Thanh Lam, Mỹ Linh, Trần Thu Hà, Hồng Nhung… Tiếp đến là Mỹ Tâm, Hiền Thục, Hồng Ngọc… Có sự liên tục trong các thế hệ nhưng mỗi người có sự toả sáng riêng - về tầm cỡ có sự khác biệt. Cũng như ca sĩ Cẩm Vân là thế hệ ca sĩ đầu tiên nhưng ở thời điểm 2015, cô vẫn là một tên tuổi nổi bật và xứng đáng là nghệ sĩ có tên tuổi lớn.
Còn với những ca sĩ trẻ mới vào nghề, họ chỉ mới cống hiến được thời gian ngắn nên tôi chưa đánh giá được gì cả. Tuy nhiên, rõ ràng trong vòng 25 năm tôi tham gia vào showbiz thì tôi thấy càng về sau, những tên tuổi nghệ sĩ họ dễ  nổi tiếng hơn, nhưng sự nghiệp họ ngắn hơn.
Băng Châu (thực hiện)
Ảnh: Nhân vật cung cấp

Bồi hồi những kỷ niệm

Hồi ức chiến tranh, người ta hay kể về những chiến công, điều tôi kể là người lính chiến thắng chính mình như một điều giản dị, giản dị nhưng không phải ai cũng làm được.

Bồi hồi những kỷ niệm
Hai mươi năm tròn theo suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cho đến ngày toàn thắng, 40 năm ngày hội lớn của toàn dân tộc, ngày thống nhất non sông, đủ đầy những ký ức của một người lính, được ôn lại cảm xúc những năm tháng hào hùng đó thật tuyệt vời!
Chúng tôi được đón nhận tin chiến thắng 30 tháng 4 từ đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam giữa lòng thủ đô trong một buổi tập chuẩn bị tiết mục mới cho cuộc hành trình phương nam nếu theo đúng như dự kiến kế hoạch ban đầu: Đoàn kịch nói Tổng cục chính trị (Tiền thân Nhà hát Kịch Quân đội ngày nay) sẽ theo chân các đơn vị chiến đấu vào tiếp quản các vùng mới giải phóng từ thành phố Huế đổ vào.
Dẫu từ mấy ngày trước đã biết tin chiến sự giải phóng một số thành phố miền trung, Tây nguyên và các căn cứ cố thủ của địch cận kề thành phố Hồ Chí Minh, như Xuân Lộc, Biên Hòa, Trảng Bàng…
Nhưng không ngờ quân ta thần tốc đến thế, trưa ngày 30/4 nghe tin quân ta đã cắm cờ Giải phóng sau khi bộ đội xe tăng húc đổ cánh cổng Dinh Độc lập, tướng Dương Văn Minh Tân Tổng thống Việt Nam cộng hòa đã kêu gọi binh sĩ bỏ vũ khí và tuyên bố đầu hàng!
Bàng hoàng như một giấc mơ, lâng lâng tự hào chờ đợi có ngày này từ “30 năm dân chủ cộng hòa kháng chiến đã thành công”.
Thế là từ nay cả dân tộc sống trong bình yên, sống trong hòa bình trọn vẹn. Chúng tôi muốn làm gì đó như để giải tỏa nỗi khát khao của tất cả mọi người, ào khỏi sàn tập vẫn mặc phục trang nhân vật quân ta, quân địch lao xuống sân, và như thể đang sống trong tưởng tượng giờ phút lịch sử, những diễn viên mặc trang phục quân giải phóng cầm súng gỗ hô những diễn viên mặc trang phục quân lực cộng hòa: “Ê! Các anh buông súng đầu hàng đi, trưa nay các anh sẽ được uống bia hơi bằng tiền hai bên cùng góp, đồng ý không? ” Mấy diễn viên trong bộ rằn ri lính ngụy cười hể hả:“Hà hà hà! Nghe rất chi Hòa hợp dân tộc, xong ngay!”.
Đúng lúc đó Đạo diễn Thành Ngọc Căn xuất hiện, nghiêm mặt ra khẩu lệnh: “Thôi!” Mọi người ngỡ ngàng nhìn Đạo diễn như cụt hứng, thì ông mỉm cười: “ Chiều nay cho anh em nghỉ tập, vui chơi thoải mái!” Tất cả diễn viên nhảy cẫng lên reo hò ầm ỹ, quên cả cởi phục trang, cứ thế nhảy lên những chiếc xe đạp Phượng hoàng không “Gác đờ bu”, (Trung quốc viện trợ để thồ hang chiến dịch) đi đâu các bạn biết không? Sau khẩu lệnh: “Hướng thẳng cửa hàng Giải khát, đối diện cổng trường Đại học Sư phạm, tiêu diệt cứ điểm Bia hơi Mộ tồn!” đám lính trẻ diễn viên hò reo vỗ tay lao xe phóng bạt mạng đâm cả vào nhau ngã chổng kềnh: “Úi giời! Bao nhiêu năm làm lính chưa được nghe lệnh nào hô sướng đến như vậy đi thôi anh em ơi!”
Ngay ngày hôm sau tập họp toàn đoàn nhận lệnh mới: Theo chỉ thị của cấp trên, Đoàn kịch Quân đội chúng ta sẽ lùi lịch xuất phát hướng về thành phố Hồ Chí Minh, chuẩn bị chương trình phù hợp hơn để phục vụ đồng bào các vùng mới giải phóng, ngoài những kịch mục động viên khích lệ các đơn vị bộ đội vừa lập công chiến thắng như “Đại đội trưởng của tôi”, “Đôi mắt” chúng tôi sẽ mang theo vở “Chị Nhàn” và “Nổi Gió” của tác giả Đào Hồng Cẩm, vì hai vở diễn này đề cập đến vấn đề Hòa hợp Dân tộc, những người dân, người lính ở hai đầu chiến tuyến, sau khi ngừng tiếng súng sẽ được ứng xử với nhau thế nào? Nhất là ở phía bên kia không ngừng tuyên truyền chính sách thù địch nghe rất khủng khiếp, như bọn tâm lý chiến ra sức kêu gào tất cả những ai liên quan tới quân đội và nhân viên chính quyền cộng hòa Việt Nam phải di tản ngay, nếu không quân đội Bắc Việt tiến vào sẽ mở cuộc “Đàn áp tắm máu”, những mệnh phụ và thiếu nữ xinh đẹp là vợ con họ hàng thân thích với ngụy quân, ngụy quyền sẽ bị lính Việt cộng dùng kìm rút hết móng mười đầu ngón tay…Vì vậy rất cần những tác phẩm nghệ thuật đi vào lòng người để nhân dân hiểu chân tướng của địch và chân lý của cuộc chiến tranh giữ nước vĩ đại này.
Không được chứng kiến những giờ phút đầu tiên của lịch sử hào hùng trong chiến dịch Hồ Chí Minh ngay tại sào huyệt, dinh lũy cuối cùng của kẻ thù, ai mà không tiếc. Nhưng nhiệm vụ mới của chúng tôi cũng thật tuyệt vời!
Không “Hành quân thần tốc” vào thành phố Hồ Chí Minh, như kế hoạch ban đầu, nhiệm vụ ở đó đã có Đoàn Ca múa Tổng cục chính trị và Đoàn Ca múa Nhân dân Trung ương, còn chúng tôi có nhiệm vụ dừng lại ở các thành phố lớn từ Huế đổ vào để biểu diễn phục vụ đồng bào vùng giải phóng, phục vụ bộ đội rút về hậu cứ sau chiến thắng lịch sử.
Sau Huế sẽ vào Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Nha Trang, từ Nha Trang tiến thẳng sân bay Tân Sơn Nhất, đóng quân tại đó, rồi đi phục vụ các nơi trong thành phố, các tỉnh thành phố lân cận và đồng bằng sông Cửu Long.
Cuộc đi như thế ai bảo không thú vị? Chưa giải phóng chỉ được biết Huế qua thơ Tố Hữu, nhạc Hồ Thuận An (Trần Hoàn) chỉ được thấy Huế mộng mơ qua ảnh và những áng văn chương…Giờ được sống bên chợ Đông ba, sông Hương, cầu Tràng Tiền, những lăng tẩm chùa triền cổ kính, được sống bên các mệ, các o có giọng nói uyển chuyển nhẹ nhàng như ca cung đình Huế, bên những chàng trai đang nhìn mình ngỡ ngàng e ngại, có người hoảng sợ bởi những luận điệu tuyên truyền của địch trước khi thất thủ, vì hơn tháng trước đây họ còn mang trên mình bộ đồ rằn ri của quân lực cộng hòa Việt Nam, giờ không khỏi mặc cảm là kẻ thất thế chỉ biết chờ đợi được sống ra sao thì biết vậy.
Nhưng đặc biệt hơn chúng tôi được lưu lại Huế khá lâu, bởi phải phục vụ địa bàn khá rộng cả đồng bào Bình Trị Thiên Huế và các đơn vị từ trong nam rút ra bắc, thế là chúng tôi rơi vào trận lụt nghe nói với Huế là trận lụt thế kỷ. Chúng tôi phải đóng quân tại đồn Mang Cá, phải lấy sân khấu gỗ lưu động lắp ghép trên hội trường của chính quyền ngụy làm nơi ăn chốn ở rồi ngày ngày phải lội bì bõm ra ngoài lên các vùng đất cao ngoài tầm lũ lụt của khu vực, biểu diễn cho đồng bào dân tộc và bộ đội đóng quân nơi đó xem trước, chờ nước rút đi chúng tôi trở về thành phố phục vụ “Trả nợ”…
Chính trận lụt ấy Huế đã để lại trong chúng tôi nhiều kỷ niệm khó quên, dẫu sau này nhiều lần đi qua hay trở lại thành phố Huế mộng mơ. Làm sao quên được những ngày chợ Đông Ba cũng bị ngập, mọi sự buôn bán đi lại gặp rất nhiều khó khăn, là đơn vị quân đội có sự chuẩn bị kho tàng lương thực nhu yếu phẩm từ thời chiến không khó khăn lắm, việc cứu giúp đồng bào nghèo nằm trong vùng bão lụt là quan trọng, để nhân dân vùng mới giải phóng tin tưởng chế độ, tin yêu bộ đội là cần thiết. Cậu lái xe tải chở phông màn đơn vị tôi gặp một người dân chắc dân xe “Ôm” chở khách gạ đổi chiếc xe Suzuki đang đi để lấy một thùng lương khô Trung quốc viện trợ cho bộ đội Việt Nam nặng khoảng bẩy, tám kilogam mang về cho vợ con chạy lụt. Biết là quá hời nếu đồng ý đổi, mà lương khô đó lại phát cho mỗi lái xe ăn sáng và phòng thân dọc đường. Vậy mà cậu lái xe tặng người dân không quen biết đó nửa thùng lương khô để về chống đói bão lụt chứ không đổi xe.
Phải chăng đó là một hành động đẹp, bởi cậu lái xe ấy sinh ra từ vùng quê nghèo Hà Bắc, cha mẹ là nông dân, có con xe Suzuki buộc lên xe tải mang về quê năm 75 là oai lắm, khối anh mắt tròn mắt dẹt.
NSƯT Đức Trung

"Đáng sợ nhất là mỗi lần phát cơm cho đồng đội thấy thừa mấy nắm cơm"

Để có được chiến thắng vang dội ngày 30/4/1975, không thể không nhắc đến công lao to lớn, sự hy sinh mất mát của hàng nghìn chiến sĩ đã ngã xuống trên mảnh đất Tàu Ô - Xóm Ruộng (Bình Dương).

Ngày nay, địa danh Tàu ô – Xóm Ruộng là di tích lịch sử nổi tiếng ở miền Đông Nam Bộ. Tại đây có một hệ thống tượng đài chiến thắng, bia tưởng niệm 1083 anh hùng liệt sĩ và hàng nghìn người dân đã ngã xuống trong chiến dịch phòng ngự 150 ngày đêm (từ tháng 4 đến tháng 8/1972), giữ vững trận địa, ngăn chặn bước tiến của quân địch trên đường 13 về An Lộc.
Cuộc chiến bảo vệ Tàu Ô là cuộc chiến đẫm máu và nước mắt
Cuộc chiến bảo vệ Tàu Ô là cuộc chiến đẫm máu và nước mắt
Đây là tuyến bàn đạp cực kỳ quan trọng cả về chiến lược cũng như tác chiến chiến thuật. Nếu giữ được, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho quân ta phát triển tấn công xuống trung tuyến; nếu mất, địch sẽ có cơ hội chiếm lại các tỉnh Lộc Ninh, Tây Ninh, Bình Long, Bình Phước. Cục diện chiến tranh sẽ hết sức bất lợi cho ta.
150 ngày đêm - máu và nước mắt
Một ngày tháng 4 đầy nắng, tôi về gặp lại người cựu binh đánh Mỹ năm xưa – nhân chứng trong 150 ngày đêm bảo vệ Tàu Ô- Xóm Ruộng. Người anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Cao Xuân Cới (66 tuổi, thôn Phong Mỹ, xã Hoằng Phong, huyên Hoằng Hóa- Thanh Hóa) vẫn còn nhớ như in những ngày tháng chiến đấu cùng đồng đội nơi “túi bom” của Mỹ điên cuồng dội xuống.
Chàng thanh niên Cao Xuân Cới nhập ngũ khi mới tròn 18 tuổi. Sau 2 năm hết bảo vệ biển Sầm Sơn- Thanh Hóa đến ra Nho Quan – Ninh Bình rồi về Nông Cống luyện tập. Năm 1971, ông bắt đầu bước chân vào chiến trường B. Nơi ông đóng quân là tiểu đoàn 209, Trung đoàn 9, Đại đội 11. Ông cùng đồng đội chiến đấu ở mặt trận Campuchia cho đến cuối năm 1971 thì trở về Việt Nam chiến đấu ở mặt trận Bù Đăng- Bù Đốp (Tây Nguyên)
Suốt cả hành trình cầm súng kháng chiến hết mặt trận này đến mặt trận khác nhưng với ông 150 ngày đêm chiến đấu ở Tàu Ô- Xóm Ruộng không thể nào quên. Với ông, đó là ký ức oai hùng nhất nhưng cũng đầy đau thương. Bởi nơi ấy, biết bao đồng đội ông ngã xuống, nơi ấy chính bàn tay ông đã chôn cất khi đồng đội hy sinh.
Cuộc chiến bảo vệ Tàu Ô là cuộc chiến đẫm máu và nước mắt
40 năm đã trôi qua nhưng cảm xúc về cuộc chiến đấu chống Mỹ vẫn vẹn nguyên trong người cựu binh này
Kể câu chuyện về 150 ngày đêm, ông không khỏi xúc động. Tự nhận mình là người may mắn khi đi qua những cuộc kháng chiến ác liệt vẫn có thể trở về, ông bảo, ngày đó đồng đội ngã xuống nhiều lắm, không kể xiết. “Tôi thường dùng ống đựng thuốc đã hết bằng thủy tinh ghi rõ tên, tuổi, địa chỉ rồi chôn cùng để sau này người thân còn tìm. Có nhiều khi đồng đội chết nhiều quá, trong thời gian cấp bách cũng không kịp viết gì, chỉ chôn đồng đội xuống thôi” – ông Cới rơm rớm nước mắt kể.
Thời điểm đó, người chiến sĩ Cao Xuân Cới làm nhiệm vụ nuôi quân. Dù nơi ông nấu ăn cho đồng đội chỉ khoảng 3km đường chim bay nhưng để tránh bị địch phát hiện, ông phải đi đường vòng xa 9-10km. Hôm nào không gặp máy bay địch thì đi từ hơn 4h chiều, khoảng 10h đêm đến nơi đồng đội chiến đấu nhưng nếu hôm nào gặp máy bay, pháo sáng của địch thì phải 12h đêm hay 1h sáng mới mang được cơm cho anh em.
“Để tránh bị phát hiện, mỗi ngày đi lại phải tìm những con đường khác nhau và nếu muốn nhớ được đường để quay trở lại phải bẻ những cành cây bên đường làm dấu. Mỗi anh em nuôi quân phải đèo 20-25 nắm cơm cho 2 bữa ăn và một bọc cơm cho buổi tối, 10lit nước, 5 lít canh, 1 khẩu súng Aka rồi lên đường. Nhiều hôm đi nửa đường, nước bị đổ, tôi lại phải quay lại lấy nước. Hồi đó, nước hiếm, anh em nhịn đói được chứ không nhịn khát được” – cựu binh Cao Xuân Cới nhớ lại.
Điều mà khiến ông sợ nhất đó là mỗi lần mang cơm ra phát cho đồng đội thấy thừa ra mấy nắm cơm. Lúc đó ông bảo nước mắt lại chực trào, tay chân run vì biết hôm đó lại có người hy sinh rồi. Biết chúng tôi buồn, anh em lại kể chuyện vui, pha trò đùa để quên đi cái đau thương ấy, lấy khí thế cho ngày hôm sau chiến đấu.
“Nếu trong chiến dịch Điện Biên Phủ, anh em với 56 ngày đêm “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt” thì chúng tôi ở đây cũng không khác gì. 150 ngày đêm là những ngày vừa đào hầm, vừa chiến đấu, ăn đói, ăn khổ. Trời nắng thì không sao, trời mưa thì khổ vô cùng, anh em đào hầm đến đâu cứ phải dùng cây căng áo mưa đến đó, rồi lấy lá cây ngụy trang ở trên để cho địch không phát hiện ra”.
“Mỗi ngày địch điên cuồng dội bom xuống, có những ngày vài ba trận, có khi thì vài ngày lại có 1 trận. Chúng âm mưu đánh tan quân ta ở đây để tiến vào chi viện cho Bình Lăng. Cuối tháng 5 đầu tháng 6/1972, sau khi tất cả các mũi, hướng tiến công, với sự góp sức của nhiều sư đoàn, lữ đoàn cùng các vũ khí tối tân không thể xuyên thủng được phòng tuyến An Lộc, không lực Hoa Kỳ và không quân của Quân đội Việt Nam cộng hòa đã thực hiện con bài cuối cùng là sử dụng 10 máy bay B52 ném bom rải thảm; thực hiện hàng nghìn phi vụ cường kích, ném hơn 40.000 tấn bom xuống khu vực Tàu ô - Xóm Ruộng. Nhưng những gì mà Mỹ đạt được chỉ là biến đất đai, cây cỏ ở khu vực này thành một đống hoang tàn. Dù bị hy sinh nhiều xương máu, cho đến nay, hàng trăm liệt sĩ và người dân vẫn chưa tìm được hài cốt, nhưng Tàu Ô – Xóm Ruộng vẫn đứng vững”.
Phá tan “cánh cửa sắt”
Địch nhận thấy không đánh chiếm được các trận địa chốt chặn trên đường 13, lại bị tiêu hao nhiều, chúng tìm cách rút quân khỏi Tàu Ô - Xóm Ruộng về ứng cứu phía sau. Lúc này, cả một vùng giải phóng rộng ở phía bắc Sài Gòn đã góp phần chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 để giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Nhớ về những ngày tháng kháng chiến, ông Cới lại cảm thấy như những trận đánh đó chỉ vừa diễn ra thôi. Dù đã 40 năm trôi qua, những cảm xúc của ngày ấy như vẫn còn vẹn nguyên.
Ông bảo, lúc đó dù ta giải phóng được nhiều nơi nhưng thị xã An Lộc vẫn bị bao vây, cô lập. Trận địa này chính là “cánh cửa sắt” để ta tiến vào Sài Gòn.  Bọn địch xác định phải giữ cho được Xuân Lộc, mất Xuân Lộc là mất Sài Gòn. Bởi vậy mà, trận Xuân Lộc, kéo dài từ ngày 9-20/4/1975, là chuỗi các trận đánh ác liệt nhất trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.
“Tôi nhớ trong trận đánh này, anh em chúng tôi bị mắc kẹt một tuần không đồ ăn, thức uống gì nhưng tinh thần chiến đấu thì lúc nào cũng mãnh liệt. Ai nấy đều quên đi khó khăn, gian khổ trước mắt để mơ về một tương lai đất nước được giải phóng” – người cựu binh đánh Mỹ kể lại.
Đến ngày 21/4 thì ta giải phóng được Xuân Lộc. Mỹ lúc này điên cuồng thả 2 quả bom xuống khu vực này, rất may thời điểm đó, sau khi giải phóng, quân và dân ta đã rút khỏi nên tránh được thương vong. Sau trận Xuân Lộc, chính quyền Sài Gòn lung lay nghiêm trọng. Phá tan được Xuân Lộc chính là đạp đổ được “cánh cửa sắt” để mở ra cuộc tổng tiến công vào ngày 30/4/1975.
Trong trận đánh này, Đại đội của ông Cới có 18 tay súng thì hy sinh 3, 5 người bị thương, nhưng ông bảo lúc đó, niềm vui của chiến thắng đã khiến cho ông cùng đồng đội quên đi những đau thương mất mát.
Cho đến 7h30 phút sáng ngày 30/4/1975 đơn vị của ông Cới tiến được vào sân bay Biên Hòa, đánh đến đâu địch bỏ chạy đến đó, vứt súng, áo trà trộn vào dân để thoát thân. 
Ông nhớ lại: “Khi nghe trên đài tiếng Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, chúng tôi đã cùng ôm nhau hò reo, ai nấy đều sung sướng đến mức khóc òa. Niềm hạnh phúc lúc đó không thể tả được”.
Nguyễn Thùy

Thời khắc đầu hàng của tổng thống Dương Văn Minh trong ký ức một vị tướng

“Tôi thấy rất may mắn được chứng kiến thời khắc lịch sử khi tổng thống Dương Văn Minh đọc lời tuyên bố đầu hàng bởi hàng ngàn đồng đội tôi đã gửi lại xương máu trên con đường tiến công trong mùa xuân 1975” - Thiếu tướng Hoàng Trọng Tình mở đầu câu chuyện 40 năm về trước.

Thiếu tướng Hoàng Trọng Tình sinh năm 1949, tại xã Thạch Thắng, huyện Thạch Hà, Hà Tĩnh. Ông nguyên là Chỉ huy trưởng đại đội 5, trung đoàn 66, sư đoàn 304 của quân đoàn 2 - đơn vị được giao chiếm giữ Đài phát thanh Sài Gòn ngày 30/4/1975.
Cuộc đời binh nghiệp của ông đã trải qua hàng chục trận đánh lớn nhỏ. Nhưng với ông, trận đánh tại Thượng Đức (huyện Đại Lộc, Quảng Nam) và thời khắc chứng kiến lời tuyên bố đầu hàng của tổng thống Dương Văn Minh là những ký ức không thể nào quên.
Chọc thủng “đôi mắt ngọc đầu rồng” của chính quyền Mỹ - Ngụy
Năm 1967, thiếu tướng Hoàng Trọng Tình lúc này mới 18 tuổi đã được gọi bổ sung vào Mặt trận B5 chiến đấu ở Quảng Trị và trực tiếp tham gia chiến dịch Mậu Thân 1968. Năm 1972,  Hoàng Trọng Tình được bổ sung làm chính trị viên, tiểu đoàn 9, trung đoàn 66, sư đoàn 304. Trung đoàn 66 là đơn vị đầu tiên của sư đoàn 304 được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang.
Thiếu tướng Hoàng Trọng Tình - 
Thiếu tướng Hoàng Trọng Tình - nguyên là Chỉ huy trưởng đại đội 5, trung đoàn 66, sư đoàn 304 của quân đoàn 2 – đơn vị được giao chiếm giữ Đài phát thanh Sài Gòn ngày 30/4/1975.
Tháng 5/1974, trung đoàn của ông nhận được lệnh của Bộ Tổng tham mưu vào tăng cường cho tư lệnh quân khu 5 chiến đấu tiêu diệt chi khu quận lỵ Thượng Đức (huyện Đại Lộc, Quảng Đà – nay là tỉnh Quảng Nam) mở rộng vùng giải phóng. Chi khu quận lỵ Thượng Đức là khu liên hiệp quân sự lớn của miền Nam chính quyền Mỹ - Ngụy, cách Thành phố Đà Nẵng 45km về phía Tây. Được coi là cánh cửa thép để bảo vệ thành phố Đà Nẵng. Với tầm quan trọng chiến lược đó, Chi khu quận lỵ Thượng Đức được tổng thống Nguyễn Văn Thiệu gọi đây là “mắt ngọc đầu rồng” và tổ chức phòng ngự hết sức kiên cố.
Ngày 29/7/1974, quân ta nổ súng tấn công tiêu diệt căn cứ này. Trong 3 năm liền, từ 1968-1970 quân ta nhiều lần tấn công căn cứ này nhưng không thành công.
Quận trưởng Nguyễn Quốc Hùng tự đắc thách thức: "Nước sông Vu Gia (tên một con sông tại khu vực này – pv) cạn  thì Việt cộng mới chiếm được nơi này”.
Lời thách thức của Nguyễn Quốc Hùng càng khiến tinh thần chiến đấu của quân ta lên cao. Nhớ lại giây phút ấy, thiếu tướng Hoàng Trọng Tình cho biết: “Qua nhiều trận đánh vào đây, bộ đội ta hy sinh nhiều nhưng tinh thần các chiến sỹ không hề nao núng. Lời thách thức của quận trưởng Nguyễn Quốc Hùng càng khiến ý chí quyết thắng càng dâng cao, đó cũng là yếu tố quyết định cho thắng lợi tại cánh cửa thép này”.
Ngày 29/7, quân ta tiếp tục mở đợt tấn công vào căn cứ Thượng Đức. Trong trận đánh này, phó tiểu đoàn 9 Nguyễn Văn Du đã ôm cọc dây thép gai tại lô cốt đầu cầu, quỳ xuống cho anh em chiến sĩ trèo lên lưng nhảy qua khi hàng rào dây thép không thể mở được. Chiến sĩ đầu tiên bị trúng đạn treo người lên hàng thép gai nhưng các chiến sỹ vẫn tiến lên, làm chủ những lô cốt tiếp theo.
Chỉ trong vòng 10 ngày (từ 29/7 đến ngày 7/8/1974) trung đoàn 66 đã chọc thủng căn cứ uy nghi của địch. Chiếm được căn cứ này, quân ta đã giải phóng được hơn 13.000 dân, bắt hàng nghìn tù binh. Quận trưởng Nguyễn Quốc Hùng phải tự sát ngay trong hầm chỉ huy.
Chiến thắng ở Thượng Đức là chiến thắng quan trọng để từ đó làm bàn đạp để quân ta giải phóng thành phố Đà Nẵng.
Sư đoàn 304 tiêu diệt chi khu Thượng Đức - Quảng Nam (ảnh tư liệu).
Sư đoàn 304 tiêu diệt chi khu Thượng Đức - Quảng Nam (ảnh tư liệu).
Ngày 27/3/1975, tiểu đoàn của Hoàng Trọng Tình (lúc này ông đã được điều làm chính ủy viên tiểu đoàn 8, trung đoàn 66) nhận được lệnh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Thần tốc, táo bạo, nhanh chóng đánh chiếm TP.Đà Nẵng”. Chỉ 3 ngày sau, Đà Nẵng đã vào tay quân giải phóng.
Với vai trò quan trọng trong lịch sử, căn cứ Thượng Đức đã được đón nhận là khu di tích cấp Quốc gia vào năm 1982.
Cũng tại trận đánh này, thiếu tướng Hoàng Trọng Tình bị thương. Hiện một phần mảnh đạn còn nằm trong phổi ông.
Thời khắc tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng
Sau chiến thắng Đà Nẵng, quân đoàn 66 tiếp tục củng cố lực lượng, bổ sung đạn dược và quân dụng cùng sư đoàn, quân đoàn làm một cuộc hành quân thần tốc dọc theo miền duyên hải trục đường 1. Chỉ sau 11 ngày đơn vị đã vượt qua chặng đường dài gần 1.000 km xuyên qua 3 quân khu, đi qua 11 tỉnh, 18 thị xã của địch. Trong đó nổi bật nhất là tiêu diệt và làm tan rã 5.000 tên địch, giải phóng thị xã Hàm Tân, góp phần đập tan hệ thống phòng thủ Sài Gòn từ xa trên hướng Đông của Mỹ - Ngụy.
Đêm 26/4/1975 sư đoàn 304 của Hoàng Trọng Tình tập kết tại Đồng Nai và nhận được lệnh đánh vào căn cứ Nước Trong, là điểm phòng ngự rắn nhất còn lại của địch trên hướng Đông Nam Sài Gòn. Ròng rã gần 3 ngày đêm giành giật quyết liệt, hai bên đều bị tổn thất lớn, đến 10 giờ sáng ngày 29/4/1975, quân giải phóng đã hoàn toàn làm chủ khu vực Nước Trong và ngã ba đường 15, sẵn sàng tiến quân vào Sài Gòn.
Thiếu tướng Hoàng Trọng Tình kể lại thời khắc tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng
Thiếu tướng Hoàng Trọng Tình kể lại thời khắc tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng

Trong khi đại đội 6, đại đội 2 tiểu đoàn 7 ngồi lên xe tăng của đại đoàn 4 lữ đoàn 203 tiến thẳng vào Dinh Độc Lập thì đại đội 5 của Hoàng Trọng Tình được giao nhiệm vụ chiếm giữ Đài phát thanh Sài Gòn. Đài nằm trên trục đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, đối diện với Cục an ninh quân đội của địch. Đến 10h30 phút ngày 30/4/1975, đại đội của Hoàng Trọng Tình chiếm được Đài phát thanh Sài Gòn và Cục an ninh quân đội, tên cục phó tự sát ngay tại phòng làm việc.
“Đến lúc này vẫn có 1 chiến sĩ của đại đội tôi bị hy sinh. Đây là chiến sĩ cuối cùng hy sinh trên đường phố Sài Gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh. Rất đáng tiếc cho chiến sĩ ấy vì chỉ ít phút nữa thôi đất nước chúng ta hoàn toàn giải phóng”, ông Tình xúc động nói.
Khi chiếm được Đài phát thanh rồi, Hoàng Trọng Tình đã giao cho đại đội 5 đảm bảo an toàn tuyệt đối cho đài. Các chiến sĩ đã hạ cờ ba que của địch trên nóc Đài phát thanh và giương cờ quân giải phóng lên. Sau đó ít phút, Trung đoàn phó Phạm Xuân Thệ cùng một số sĩ quan ngồi trên chiếc xe Jeep dẫn Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Ngọc Mẫu ra Đài phát thanh để đọc văn bản tuyên bố đầu hàng.
Phải mất mấy chục phút, đại đội của Hoàng Trọng Tình mới chuẩn bị đầy đủ thiết bị cho Dương Văn Minh tuyên bố. Đúng 11h30 ngày 30/4/1975, từ căn phòng thu âm của Đài phát thanh Sài Gòn, Dương Văn Minh tuyên bố: “Tôi, Dương Văn Minh, Tổng thống chính quyền Sài Gòn, kêu gọi Quân lực Việt Nam Cộng Hòa hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố chính quyền Sài Gòn từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn, từ trung ương đến địa phương trao lại cho Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam".
Tống thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện vào 
Tống thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện vào 11h30 ngày 30/4/1975
Sau đó, giáo sư Vũ Văn Mẫu phát biểu trực tiếp tiếp theo: "Trong tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, tôi, giáo sư Vũ Văn Mẫu, Thủ tướng, kêu gọi tất cả các tầng lớp đồng bào vui vẻ chào mừng ngày hòa bình của dân tộc, và trở lại sinh hoạt bình thường. Các nhân viên của các cơ quan hành chánh quay trở về vị trí cũ theo sự hướng dẫn của chính quyền Cách mạng".
Kế tiếp là lời chấp nhận đầu hàng của Chính ủy Bùi Văn Tùng: "Chúng tôi đại diện lực lượng quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam long trọng tuyên bố Thành phố Sài Gòn đã được giải phóng hoàn toàn, chấp nhận sự đầu hàng không điều kiện của Tướng Dương Văn Minh, Tổng thống chính quyền Sài Gòn".
“Thời khắc đó, tất cả chúng tôi đã vỡ òa, ôm chầm lấy nhau, niềm vui hòa lẫn máu và nước mắt. Những hình ảnh này luôn in đậm trong tâm khảm tôi bởi để có được những phút giây này đã có biết bao xương máu của anh em chiến sĩ, đồng bào, đồng chí đã đổ xuống. Giây phút ấy tôi vẫn cảm thấy mình may mắn vì được dự đến trận đánh lớn sau cùng của dân tộc”, thiếu tướng Hoàng Trọng Tình xúc động.
Phượng Vũ

Thần tốc, chớp nhoáng giải phóng quần đảo Trường Sa

“Phải tranh thủ mọi thời cơ có lợi đánh chiếm quần đảo Trường Sa, một quần đảo giữ vị trí chiến lược về chính trị, quân sự và kinh tế, kiên quyết không để lực lượng nào khác vào đánh chiếm đảo trước ta”.

Đó là quyết tâm chiến lược của Đảng, Bộ Tổng Tham mưu chỉ đạo Quân chủng Hải quân trong chiến dịch giải phóng quần đảo Trường Sa trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.
Trường Sa - một phần không thể tách rời của Tổ quốc
Trường Sa là một quần thể gồm khoảng 120 đảo, bãi cạn, bãi ngầm nằm ở phía Đông – Đông Nam bờ biển Trung bộ nước ta, trong một vùng biển rộng khoảng 180.000km2. Đảo Trường Sa lớn cách đất liền nơi gần nhất (mũi Cà Ná – Ninh Thuận) khoảng 240 hải lý; đảo Song Tử Tây cách Đà Nẵng khoảng 480 hải lý. Khoảng cách giữa các đảo trong quần đảo tương đối xa nhau, gần nhất là từ Song Tử Tây đến Song Tử Đông khoảng 1,5 hải lý; xa nhất là từ Song Tử Tây đến An Bang khoảng 230 hải lý, các đảo còn lại đều cách nhau trên 10 hải lý.
Trên quần đảo Trường Sa vào thời điểm đầu năm 1975 có 11 đảo có người ở. Quân đội Đài Loan chiếm giữ đảo Ba Bình. Philippines đóng giữ 5 đảo (Thị Tứ, Vĩnh Viễn, Bến Lạc, Nam Côn, Song Tử Đông); Chính quyền Sài Gòn đóng giữ 5 đảo (Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn, Trường Sa lớn và mới đặt bia chủ quyền ở An Bang, chưa có người ở). Lực lượng quân đội Sài Gòn đóng giữ ở Trường Sa có khoảng 150 lính bảo an thuộc Tiểu đoàn 371 Phước Tuy, theo chu kỳ thay quân chốt giữ 3 tháng 1 lần.
Quần đảo Trường Sa là một phần không thể tách rời của Tổ quốc Việt Nam. Vì vậy, trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Đảng ta chủ trương đồng thời giải phóng quần đảo Trường Sa do ngụy quyền Sài Gòn đóng giữ, thu non sông về một mối. Đây cũng là một hướng tiến công chiến lược trên biển nhằm phối hợp với các hướng tiến công trên bộ vào Sài Gòn – sào huyệt cuối cùng của Mỹ - Việt Nam Cộng hòa.
Trung ương Đảng, Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh giao nhiệm vụ rất quan trọng - giải phóng quần đảo Trường Sa cho Quân chủng Hải quân. Kiên quyết không để lực lượng khác lợi dụng sơ hở đến đánh chiếm đảo của ta, Bộ Tư lệnh Quân chủng lên phương án giải phóng Song Tử Tây trước, sau đó giải phóng Nam Yết, Sơn Ca, Sinh Tồn, Trường Sa lớn… 
Giải phóng đảo Song Tử Tây. Ảnh tư liệu
Giải phóng đảo Song Tử Tây. Ảnh tư liệu
Cuộc đổ bộ bí mật, bất ngờ
Theo kế hoạch tác chiến, ngày 9/4/1975, khi những cánh quân trên bộ của Chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu tiến công mãnh liệt vào phòng tuyến của ngụy ở cửa ngõ phía Đông và phía Nam của Sài Gòn (Xuân Lộc – Đồng Nai và Tân An – Long An) thì Bộ tư lệnh Hải quân nhận được lệnh tiến đánh đảo Song Tử Tây.
3 tàu vận tải (673, 674, 675) của Trung đoàn 125 giả dạng làm tàu cá nước ngoài chở lực lượng của Trung đoàn Đặc công Hải quân 126 được tăng cường một bộ phận của Tiểu đoàn 471 Đặc công Quân khu 5 từ quân cảng Đà Nẵng tiến ra Song Tử Tây.
Rạng sáng 14/4/1975, tàu ta áp sát Song Tử Tây. 3 mũi đặc công dùng xuồng bí mật đổ bộ, tiến công lên đảo. Bị đánh bất ngờ, địch hoang mang chống trả yếu ớt. Sau 30 phút vừa chiến đấu vừa gọi hàng, quân ta đã làm chủ toàn bộ hòn đảo, tiêu diệt 6 tên, bắt sống 33 tên. Khi bình minh vừa lên thì cũng là lúc lá cờ của Mặt trận giải phóng dân tộc miền Nam tung bay trên đỉnh cột trước bia chủ quyền của Tổ quốc ở Song Tử Tây.
Khi bị mất Song Tử Tây, chính quyền Sài Gòn đã điều 2 tàu chiến từ Vũng Tàu ra định phản kích chiếm lại nhưng vì nản lòng, nhụt chí chiến đấu trước những thất bại liên tiếp trên bộ khiến cho quân lính không dám đổ bộ lên đảo mà quay sang phòng thủ ở Nam Yết. Lực lượng hải quân Mỹ - Việt Nam Cộng hòa ở ngoài khơi hoạt đồng cầm chừng, chỉ lo tập trung vào kế hoạch di tản khỏi Sài Gòn nên bỏ mặc đồng đội trên đảo.
Trận đột kích đầu tiên thắng lợi, quân ta để một lực lượng ở lại làm nhiệm vụ giữ đảo, lực lượng còn lại về Quân khu 5 – Đà Nẵng bổ sung thêm vũ khí, lên kế hoạch đánh các đảo còn lại.
Rạng sáng 25/4/1975, Quân chủng Hải quân tiếp tục sử dụng 2 tàu vận tải (673, 641) của Trung đoàn 125 chở lực lượng của Trung đoàn Đặc công Hải quân 126 và một số cán bộ của Tiểu đoàn 471 Đặc công Quân khu 5 đổ bộ lên đảo Sơn Ca. Địch chống cự yếu ớt. Sau 30 phút chiến đấu và gọi hàng, ta làm chủ đảo, tiêu diệt 2 tên, bắn bị thương 3 tên, bắt sống 17 tên, thu nhiều súng đạn.
Ngày 27/4/1975, đặc công ta đổ bộ lên đảo Nam Yết. Do địch bỏ chạy nên ta nhanh chóng làm chủ đảo. Phát huy khí thế tiến công thần tốc, quân ta nhanh chóng giải phóng đảo Sinh Tồn và đến sáng 29/4/1975 thì phân đội chiến đấu cuối cùng của Trung đoàn Đặc công Hải quân 126 đã hoàn thành nhiệm vụ đổ bộ và làm chủ đảo Trường Sa lớn.
Đô đốc Nguyễn Văn Hiến - Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tư lệnh Hải quân cho rằng, nhờ tận dụng và phát huy sức mạnh tổng hợp nên mặc dù phương tiện đổ bộ của ta rất hạn chế (chỉ có 3 tàu vận tải, xuồng cao su chèo tay), lực lượng đặc công thì trang bị rất gọn nhẹ, chủ yếu là súng tiểu liên, lựu đạn, hỏa lực B40, B41, cối 82mm nhưng quân ta vẫn nhanh chóng tiến công giải phóng được quần đảo Trường Sa, hạn chế thấp nhất tổn thất.
“Chiến công giải phóng quần đảo Trường Sa trong đại thắng mùa Xuân 1975 mãi mãi là niềm tự hào của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân chủng Hải quân nhân dân Việt Nam anh hùng. Những bài học kinh nghiệm rút ra từ chiến thắng này vẫn còn nguyên giá trị và tính thời sự trong sự nghiệp xây dựng Quân chủng Hải quân “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”, làm nòng cốt quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo Tổ quốc trong tình hình mới”, Đô đốc Nguyễn Văn Hiến khẳng định.
Ngô Công Quang

Thứ Tư, 29 tháng 4, 2015

"Những ngày cuối cùng tại Việt Nam" và tấn bi kịch của Mỹ

Bộ phim tài liệu “Những ngày cuối cùng tại Việt Nam” được trao giải Oscar năm 2014. Trong đó, các nhân chứng sống bao gồm những chính khách, sĩ quan Mỹ và chế độ Sài Gòn đã hồi tưởng lại những thời khắc cuối cùng trước thời điểm chính quyền Sài Gòn sụp đổ ngày 30/4/1975.

Những ngày cuối cùng tại Việt Nam và tấn bi kịch của Mỹ
 Thủy thủ tàu khu trục Mỹ USS Kirk đẩy các máy bay trực thăng xuống biển để lấy chỗ cho các trực thăng chở người di tản khác đáp xuống tháng 4/1975. (Ảnh:Corbis Photo)
Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn Graham Martin rất yêu thích cây me mọc ở bãi đỗ xe bên ngoài tòa đại sứ Mỹ tại Sài Gòn, được nhà ngoại giao này thường mô tả là “vững chắc như cam kết của Mỹ tại Việt Nam”. Vào sáng sớm ngày 29/4/1975, lãnh đạo chi nhánh CIA tại Sài Gòn nói với đại sứ Martin rằng cây me đã bị đốn hạ. Người ta cần dẹp quang tất cả các bụi cây trên khu đất để lấy chỗ đậu cho máy bay trực thăng.
Nóc tòa đại sứ là sân đậu trực thăng, song không đủ khả năng nếu đại sứ muốn di tản hàng ngàn người Mỹ và Việt Nam. Lính thủy đánh bộ Mỹ buộc phải chặt hạ cây me, tạo ra một bãi đáp trực thăng. Hành động mang tính biểu tượng là cú đòn choáng váng đối với đại sứ Mỹ Martin, người vẫn luôn níu kéo giấc mơ chính quyền Sài Gòn sẽ tồn tại lâu dài hơn.
Quá trưa ngày 29/4 một chút, cơ trưởng thủy quân lục chiến Gerald Berry đáp trực thăng xuống nóc tòa đại sứ Mỹ. Berry giục Martin rời đi, nhưng viên đại sứ Mỹ từ chối. Trong khi đó, hàng ngàn nhân viên, sĩ quan chính quyền Sài Gòn đang chen lấn, xô đẩy thục mạng bên ngoài hàng rào tòa đại sứ để tìm cách lọt vào trong. “Tôi cảm thấy nghĩa vụ đạo đức rất lớn trong việc di tản được càng nhiều người càng tốt”, Martin viết trong điện báo gửi Ngoại trưởng Mỹ khi đó là Henry Kissinger.
Đại sứ Martin chỉ là một trong số rất nhiều người suy sụp trong bối cảnh rối bời trong bộ phim tài liệu “Những ngày cuối cùng tại Việt Nam” của đạo diễn Rory Kennedy, đoạt giải thưởng Oscar phim tài liệu hay nhất năm 2014. Cuốn phim mô tả hết sức chân thực và chi tiết những thời khắc cuối cùng của cuộc chiến của Mỹ tại Việt Nam, tập trung vào các hoạt động và những nhân vật ở đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn. Đạo diễn cùng ê kíp làm phim đã sử dụng nhiều bộ phim tư liệu, thư từ, dữ liệu ghi âm và băng phỏng vấn các cựu binh Mỹ, chính khách và cả những người sống sót sau cuộc chiến. Các nhân chứng sống đã kể lại câu chuyện của chính họ trong “Những ngày cuối cùng tại Việt Nam”.
Nhân vật sầu thảm, cay đắng nhất trong phim chính là đại sứ Mỹ Martin. Nhà ngoại giao Mỹ đã nán lại đến giờ phút cuối cùng mới chịu lên máy bay sơ tán. Đại sứ Martin cũng mất đứa con nuôi trong cuộc chiến tại Việt Nam. Nhà ngoại giao bất hạnh muốn tin rằng nước Mỹ sẽ ở lại xứ sở này mãi mãi để khiến cho cái chết của vô số người Mỹ có ý nghĩa nào đó. Tuy nhiên, thực tế quân giải phóng đang thắng như chẻ tre trên khắp miền Nam trong tháng 4/1975 và quân đội chính quyền Sài Gòn được Mỹ hậu thuẫn đã sụp đổ.
Trong thâm tâm, Martin không bao giờ tin rằng những người cộng sản có thể chiếm được Sài Gòn. Khi sân bay Tân Sơn Nhất bị máy bay quân giải phóng ném bom, cắt đứt con đường sơ tán chủ yếu, đại sứ Martin vẫn không tin cho tới khi tận mắt chứng kiến điều đó. Viên đại sứ Mỹ cuối cùng dưới chế độ Sài Gòn đã cố gắng dành những ngày cuối cùng để di tản càng nhiều người nhất có thể. Lính bảo vệ thuộc thủy quân lục chiến Mỹ Mike Sullivan nói: “Việc di tản diễn ra là vì đại sứ Martin muốn như thế”.
 
Lính Mỹ bị quân giải phóng đánh tơi bời tại Khe Sanh
Lính Mỹ bị quân giải phóng đánh tơi bời tại Khe Sanh
 
Martin từ chối lên trực thăng di tản sớm và là một trong những người Mỹ cuối cùng sơ tán khỏi Sài Gòn trước khi thành phố bị chiếm. Ông ta lần chần suốt nhiều tuần lễ, nuôi hy vọng kéo dài, nhưng kết cục buộc vị đại sứ Mỹ phải làm điều đúng đắn là rời đi.
“Cuối tháng 4/1975 toàn bộ những gì liên quan tới Việt Nam là một thế giới thu nhỏ. Những cam kết bị đổ vỡ. Người ta đau đớn vì chúng ta đã không hành động ăn ý với nhau. Toàn bộ cuộc chiến Việt Nam là một câu chuyện gây ấn tượng như vậy. Mặt khác, đôi khi có những thời điểm người ta đối mặt với những tình huống bất ngờ và làm những điều cần phải làm”, tùy viên quân sự đại sứ quán Mỹ tại Sài Gòn hồi đó là Stuart Herrington giải thích.
Trong khi đó, trên sàn đỗ tàu sân bay USS Midway (CV-41) vào cuối tháng 4/1975 có 10 máy bay trực thăng vận tải hạng nặng thuộc biên chế sư đoàn không vận số 40 và phi đoàn chiến dịch đặc biệt số 40 thuộc không lực Mỹ đang túc trực ngoài Biển Đông để thực hiện chiến dịch sơ tán hàng loạt người Mỹ và các quan chức, sĩ quan chính quyền Sài Gòn. Các thủy thủ Mỹ nhìn thấy lửa đạn pháo và rocket của quân giải phóng nã vào khu vực Vũng Tàu. Đây là đợt tập hợp hạm đội hải quân Mỹ lớn nhất kể từ khi Mỹ leo thang chiến tranh, sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ năm 1964.
Đầu năm 1975, chiến tranh Việt Nam đã trôi khỏi trí nhớ của nhiều người Mỹ như một kỷ nguyên lịch sử đáng quên. Cuộc chiến đã kết thúc, binh lính đã trở về nhà và Tổng thống Ford đã ra lệnh ân xá cho những người trốn quân dịch. Trước bước tiến vũ bão của quân giải phóng Việt Nam được thể hiện trên các tấm bản đồ khổ lớn và ngày càng nhiều tin tức các thị trấn, đô thị rơi vào tay quân giải phóng lên trang nhất các tờ báo Mỹ. Khi tàu sân bay USS Midway từ Nhật tiến xuống phía Nam, nhiều câu hỏi vang lên: Liệu Mỹ có tiếp tục oanh kích? Mỹ có điều động lực lượng lính thủy đánh bộ trở lại để cứu chế độ Sài Gòn? Những câu hỏi đó cứ râm ran trong lực lượng hải quân,  không quân và thủy quân lục chiến Mỹ, cũng như trong các nhà hoạch định chính sách ở Washington và Sài Gòn.
Về mặt chính trị, chính quyền của Tổng thống Nixon đã kết thúc chiến tranh vào năm 1973 và rời nhiệm sở trong tủi hổ. Quốc hội Mỹ và Nhà Trắng cãi lộn nhau do Quốc hội từ chối đề nghị của Tổng thống Ford về việc cung cấp tài chính để mua vũ khí cho quân đội Sài Gòn. Phần lớn người Mỹ vui mừng vì chiến tranh đã chấm dứt. Tại Sài Gòn, đại sứ Mỹ Graham Martin cùng với các nhân viên ngoại giao, tùy viên quân sự và nhân viên CIA bắt đầu tiến hành chiến dịch di tản ồ ạt.
Tùy viên quân sự Herrington buộc phải quyết định về vấn đề “ai đi ai ở”. Nhân viên CIA Frank Sneep khuyên đại sứ Martin chấm dứt hoạt động ngoại giao tại Việt Nam. Sĩ quan đặc nhiệm hải quân SEAL Rick Armitage và thuyền trưởng hải quân Sài Gòn Kiem Do cố gắng tổ chức sơ tán hải quân chế độ Sài Gòn trước khi rơi vào tay quân giải phóng. Trong cuốn hồi ký “Tổn thất không thể bù đắp”, Sneep dẫn lời một đồng nghiệp CIA đưa một nhà báo lên tàu sơ tán đã hỏi rằng: “Vậy, làm thế nào các ông vực được một đất nước đứng dậy?”. Hải quân Mỹ lúc đó phải sắp xếp lại hai tàu sân bay tấn công USS Midway và USS Hancock thành hai tàu sân bay trực thăng cùng với tàu đổ bộ trực thăng USS Okinawa LPH-3 làm nhiệm vụ di tản.
“Những ngày cuối cùng tại Việt Nam” cho thấy các tàu sân bay Mỹ được biến thành bãi đáp cho không chỉ trực thăng Mỹ mà còn thành sân bay bất đắc dĩ của nhiều máy bay chế độ Sài Gòn và máy bay của nhân viên CIA bỏ chạy. Một trong những cảnh ấn tượng nhất của chiến dịch di tản trên tàu sân bay USS Midway là cảnh một sĩ quan không quân Sài gòn chở vợ cùng 5 con nhỏ trên một máy bay trinh sát hai chỗ ngồi O-1 Bird Dog di tản. Anh ta bay quanh con tàu chật cứng máy bay và cố ném xuống một mẩu giấy ghi bên lề dòng chữ “Xin hãy cứu tôi, thiếu tá Buang, vợ cùng 5 con”. Thuyền trưởng Laurence Chamber đã phải ra lệnh hất máy bay xuống đuôi tàu để dọn chỗ hạ cánh cho viên phi công và gia đình lần đầu tiên và cũng là duy nhất đáp xuống tàu sân bay.
Tàu sân bay USS Midway chở đầy ắp người di tản và máy bay tháo chạy đi về Guam, sau đó trở lại cứu thủy thủ đoàn tàu chở hàng SS Mayaguez bị Khmer đỏ bắt giữ tại Campuchia. Tuy nhiên, chiến dịch di tản trước khi Sài Gòn sụp đổ năm 1975 vẫn có những chuyện có hậu. Năm 2009, thuyền trưởng Lê Bá Hùng, con trai một sĩ quan hải quân chính quyền Sài Gòn được tàu USS Barbour County (LST-1195) đón tiếp ngoài biển đã chỉ huy tàu khu trục USS Lassen (DDG-82) đại diện hải quân Mỹ thăm hữu nghị Đà Nẵng. Tháng 4/2015, đại tá Lê Bá Hùng với tư cách Phó Chỉ huy Biên đội tàu khu trục số 7, Hạm đội Thái Bình Dương, lại một lần nữa cập cảng Tiên Sa (Đà Nẵng) trong chuyến thăm hữu nghị của hải quân Mỹ tới Việt Nam, nhân dịp kỷ niệm 20 năm Việt-Mỹ bình thường hóa quan hệ. 
Theo Thục Ninh
Tiền Phong

Hình ảnh Sài Gòn trong “ngày vui đại thắng” trên báo thế giới

Dưới đây là những bức ảnh về Sài Gòn được các phóng viên nước ngoài chụp trong ngày 30/4/1975. Những khoảnh khắc lịch sử đã được ghi lại kể từ sau phút giây xe tăng của Quân Giải phóng tiến vào Dinh Độc lập.

Hình ảnh người dân Sài Gòn, thành phố Sài Gòn trong ngày chiến thắng lịch sử - 30/4/1975:
Hình ảnh Sài Gòn trong “ngày vui đại thắng” trên báo thế giớiHai chiếc xe tăng dẫn đầu - T59 số hiệu 390 và T54B số hiệu 843 - tiến vào húc đổ cổng Dinh Độc lập trưa ngày 30/4/1975. (Ảnh: Francoise de Mulder/Corbis)
Đoàn quân Giải phóng tiến vào sân Dinh Độc lập. (Ảnh: Francoise de Mulder/Corbis)Đoàn quân Giải phóng tiến vào sân Dinh Độc lập. (Ảnh: Francoise de Mulder/Corbis)
Đoàn quân Giải phóng tiến vào sân Dinh Độc lập. (Ảnh: Francoise de Mulder/Corbis)Xe chở Quân Giải phóng tiến vào Sài Gòn trong ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. (Ảnh: Jean-Claude Labbe/Gamma-Rapho)
Các chiến sĩ giải phóng quân trong sân Dinh Độc lập. (Ảnh: Jean-Claude Labbe/Gamma-Rapho)Các chiến sĩ giải phóng quân trong sân Dinh Độc lập. (Ảnh: Jean-Claude Labbe/Gamma-Rapho)
Các chiến sĩ giải phóng quân trong sân Dinh Độc lập. (Ảnh: Jean-Claude Labbe/Gamma-Rapho)Những người làm việc cho chế độ cũ ngồi tập trung ở một góc sân Dinh Độc lập trước sự giám sát của một chiến sĩ giải phóng quân. (Ảnh: Jean-Claude Labbe/Gamma-Rapho)
Các chiến sĩ giải phóng quân tiến vào Dinh Độc lập. (Ảnh: Jean-Claude Labbe/Gamma-Rapho)Các chiến sĩ giải phóng quân tiến vào Dinh Độc lập. (Ảnh: Jean-Claude Labbe/Gamma-Rapho)
Các chiến sĩ giải phóng quân tiến vào Dinh Độc lập. (Ảnh: Jean-Claude Labbe/Gamma-Rapho)Sân Dinh Độc lập nhìn từ tầng cao trong ngày Quân Giải phóng tiến vào thành phố. (Ảnh: Jean-Claude Labbe/Gamma-Rapho)
Các chiến sĩ giải phóng quân tiến vào Dinh Độc lập. (Ảnh: Jean-Claude Labbe/Gamma-Rapho)Người dân Sài Gòn xuống phố đón Quân Giải phóng, chính thức đánh dấu sự chấm dứt của chiến tranh Việt Nam. (Ảnh: AFP)
Các chiến sĩ giải phóng quân tiến vào Dinh Độc lập. (Ảnh: Jean-Claude Labbe/Gamma-Rapho)Xác một chiếc trực thăng cỡ nhỏ của không quân Việt Nam Cộng hòa rơi trên đường Nguyễn Hoàng ngày 29/4, giờ đây còn lại là một đống đổ nát, thu hút sự tò mò, hiếu kỳ của những em nhỏ. (Ảnh: Herve Gloaguen/Gamma-Rapho)
Các chiến sĩ giải phóng quân tiến vào Dinh Độc lập. (Ảnh: Jean-Claude Labbe/Gamma-Rapho)Những gì còn lại của lính Mỹ, lính Việt Nam Cộng hòa trên một đường phố ở ngoại ô Sài Gòn. (Ảnh: Jacques Pavlovsky/Sygma/Corbis)
Những người dân Sài Gòn đứng trò chuyện với những chiến sĩ giải phóng quân. (Ảnh: Jacques Teyssier)Những người dân Sài Gòn đứng trò chuyện với những chiến sĩ giải phóng quân. (Ảnh: Jacques Teyssier)
Người dân Sài Gòn xuống phố chào đón Quân Giải phóng. (Ảnh: Jacques Pavlovsky/Sygma/Corbis)Người dân Sài Gòn xuống phố chào đón Quân Giải phóng. (Ảnh: Jacques Pavlovsky/Sygma/Corbis)
Các chiến sĩ giải phóng quân trong sân Dinh Độc lập. (Ảnh: Bettmann/Corbis)Các chiến sĩ giải phóng quân trong sân Dinh Độc lập. (Ảnh: Bettmann/Corbis)
Một khu dân cư ở Sài Gòn treo cờ chào đón Quân Giải phóng. (Ảnh: Herve Gloaguen/Gamma-Rapho)Một khu dân cư ở Sài Gòn treo cờ chào đón Quân Giải phóng. (Ảnh: Herve Gloaguen/Gamma-Rapho)
Một khu dân cư ở Sài Gòn treo cờ chào đón Quân Giải phóng. (Ảnh: Herve Gloaguen/Gamma-Rapho)Người dân phấn khích xuống đường hòa vào cùng đoàn quân Giải phóng. (Ảnh: Jean-Claude Labbe/Gamma-Rapho)
Một khu dân cư ở Sài Gòn treo cờ chào đón Quân Giải phóng. (Ảnh: Herve Gloaguen/Gamma-Rapho)Trong niềm vui phơi phới, hai chiến sĩ giải phóng quân đàn hát ngay trên bậc thềm của khách sạn Majestic nằm bên sông Sài Gòn. (Ảnh: Bettmann/Corbis)
Một khu dân cư ở Sài Gòn treo cờ chào đón Quân Giải phóng. (Ảnh: Herve Gloaguen/Gamma-Rapho)Nụ cười của những chiến sĩ giải phóng quân trong ngày miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất. (Ảnh: Francoise de Mulder/Corbis)
Các chiến sĩ giải phóng quân. (Ảnh: Jacques Pavlovsky/Sygma/Corbis)Các chiến sĩ giải phóng quân. (Ảnh: Jacques Pavlovsky/Sygma/Corbis)

Bích NgọcTổng hợp

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons