Thứ Ba, 2 tháng 2, 2016

Giải mã gốm Chu Đậu - Kỳ 7: Ẩn tích sông Hương



Sau năm 1975, đội ngũ đông đảo dân vạn đò trên sông Hương của Huế đã trục vớt được “hằng hà sa số” những hiện vật gốm vẽ lam, trắng ngà phong cách đáy “nhuộm” màu sôcôla.
 
"Nghe đọc bài: Ẩn tích sông Hương"
Giải mã gốm Chu Đậu - Kỳ 7: Ẩn tích sông Hương
Nhà nghiên cứu Hồ Tấn Phan và lô đồ Chu Đậu đang để ở sân vườn - Ảnh: Thái Lộc
Chẳng ai biết “ất giáp” nó thuộc dòng gốm nào, mãi cho đến sau này, thông qua các cuộc khai quật khảo cổ học thì dòng gốm “bí ẩn” dưới sông Hương suốt nhiều năm mới được giải mã.
Một thời kỳ trải dài qua hai thế kỷ hưng thịnh rồi suy tàn của gốm Chu Đậu lại thể hiện rõ nét nhất ở dưới lòng sông thơ mộng này.
Những chiếc bình lạ
Cho đến nay, không có cuộc khảo cổ nào chứa đựng thông tin rộng về gốm Chu Đậu như kho tàng mà nhà nghiên cứu Hồ Tấn Phan đang sở hữu. Số nhà 28/5 Cao Bá Quát, TP Huế đã trở thành nơi tới lui của giới nghiên cứu gốm sứ trong và ngoài nước.
Trong khuôn viên gần 3.000m2 ấy, đâu đâu cũng là chum vại và đồ gốm sứ. Hiện vật được chất thành đống, vỡ có, nguyên lành có, thuộc các giai đoạn ở Việt Nam, từ đồ Đông Sơn - Sa Huỳnh cho đến đồ Lý - Trần và đồ Champa...
Có rất nhiều đồ gốm nước ngoài, từ Hán, Đường, Minh, Thanh xuất xứ từ Trung Quốc, hay gốm Thái Lan, Nhật Bản và các nước phương Tây giai đoạn trung đại... Nhưng chiếm số lượng nhiều bậc nhất trong bộ sưu tập vẫn là những bình vôi, chén, đĩa thuộc dòng gốm Chu Đậu.
Mọi thứ hỗn độn với người mới đến nhà ông lần đầu để tận mắt chứng kiến kho tàng đồ sộ của ông, nhưng với nhà nghiên cứu đã bước sang tuổi bát tuần đó là sắp xếp có chủ đích rõ ràng theo từng giai đoạn và dòng gốm mà ông tìm kiếm được.
Trong nụ cười hiền, ông Phan cuốn chúng tôi vào câu chuyện có phần ly kỳ về bộ sưu tập hàng chục vạn hiện vật của mình. Câu chuyện ấy bắt đầu từ những người dân xóm vạn đò vốn là “vùng trũng” của y tế, giáo dục và văn hóa của Huế, bám lấy sông Hương để mưu sinh.
Trước năm 1975 ông Phan là thầy giáo, còn vợ ông, bà Nguyễn Thị Thơ, là y tá. Sau 1975, ông dạy ít năm rồi nghỉ hưu sớm, chuyên tâm đọc sách và nghiên cứu văn hóa lịch sử. Còn vợ ông thì chuyên thăm khám cho dân vạn đò.
Với những hộ gia đình lênh đênh trên chiếc thuyền nhỏ bé, dù nghèo khó nhưng nhân khẩu cứ tăng vọt, những đứa trẻ cứ liên tiếp ra đời.
Bà Thơ đỡ đẻ mát tay, đò nào cũng kêu khi có người chuyển dạ. Thù lao thì khi có khi không, có khi xin “nợ” nhưng đỡ xong đứa sau rồi cũng lại nợ, kể cả tiền đỡ đứa trước. Vậy là người ta biếu bà những gì có ở trong đò...
Gần 40 năm trước, khi đang ngồi đọc sách bên thềm, bà vợ ông đem về khoe một cái bình vôi của một chủ đò nhờ đỡ đẻ biếu. Bình vôi phủ men trắng ngà, phần quai màu lục, hai bên “gốc” quai in nổi những trái cau và hoa văn rất đẹp.
Đặc biệt là ở phần đế có một viền màu sôcôla, rất khác lạ so với nhiều hiện vật mà ông từng thấy. Chiếc bình vôi đã khởi đầu cho việc sưu tập hiện vật thuộc “văn hóa sông Hương” chiếm trọn phần đời còn lại của ông.
Đọc sách để giải mã cho được bình vôi xuất xứ ở đâu, vì sao mà dưới sông Hương nhiều như vậy, có phải là gốm nội địa hay là từ nơi khác nhập về... Càng đọc càng khiến ông hụt hẫng vì chẳng tìm một dòng nào ghi lại cả. Ông “khoanh vùng” dòng gốm này là “gốm lạ”.
Càng về sau, số lượng gốm lạ được vợ mang về ngày một nhiều. Ông đi đến xóm vạn đò trên sông Hương để tìm hiểu. Lúc đó, đồ gốm chỉ là sản phẩm “tăng thêm” của các con đò.
Hoàn cảnh khó khăn sau năm 1975, ngoài làm cát sạn và tôm cá, buôn bán, dân vạn đò có thêm nghề trục vớt phế liệu dưới lòng sông. Ngoài nhôm đồng trục vớt về bán được, thỉnh thoảng họ thấy cái gì là lạ thì đem về vứt lăn lóc trong đò.
“Tôi như tá hỏa vì dưới lòng sông Hương có quá nhiều hiện vật của nhiều dòng, nhiều giai đoạn lịch sử. Kể từ đó, dòng sông Hương trở thành đối tượng sưu tầm để nghiên cứu lịch sử văn hóa của tôi!” - ông Phan kể.
Bộ sưu tập hiện vật dưới đáy sông Hương của ông Phan dần “phình to”, từ một góc tủ thành đầy nhà, chiếm cả không gian của sách.
Rồi tiến ra vườn, hình thành một khu vườn gốm cổ rất độc đáo, mà ông đặt tên cho nó theo tên bộ tiểu thuyết kinh điển của nhà văn người Pháp Marcel Proust: À la recherche du temps perdu (Đi tìm thời gian đã mất).
Tên gọi này gợi mở sự hiện thân một nền “văn hóa sông Hương” mà ông Phan đang cố giải mã. Bởi vì chưa thấy con sông nào trên đất nước có lớp trầm tích dày đặc, kéo dài cả về không gian lẫn thời gian như vậy cả.
Dòng “gốm lạ” nằm trong số đó, cũng vẫn “phình to” hằng ngày và vẫn y nguyên với điều bí hiểm không có lời giải đáp...
Giải mã gốm Chu Đậu - Kỳ 7: Ẩn tích sông Hương
Chiếc bình vôi Chu Đậu trục vớt từ lòng sông Hương - Ảnh: Thái Lộc
Gốm Chu Đậu dưới đáy sông Hương
Mãi cho đến khi có kết quả các cuộc khai quật khảo cổ ở Nam Sách (Hải Dương) và con tàu đắm Cù Lao Chàm (Quảng Nam), đối chiếu lại ông Phan mới “té ngửa” khi nhận ra loại “gốm lạ” mà ông bỏ công đọc cả nghìn cuốn sách vẫn không tìm ra manh mối lại thuộc dòng gốm Chu Đậu được sản xuất ở tận tỉnh Hải Dương.
Lấy kết quả nghiên cứu “gốm lạ” trong bộ sưu tập của mình, “ráp nối” với kết quả các cuộc khai quật khảo cổ học vừa nói qua, ông Phan nhận ra có rất nhiều mẫu vật gốm thuộc dòng Chu Đậu có trong bộ sưu tập của ông, nhưng lại không thấy có ở các cuộc khai quật khảo cổ “chính thống”.
Câu hỏi đó cộng với số lượng “hằng hà sa số” hiện vật cùng dòng nằm chung dưới một lòng sông, trong nhiều năm trời buộc ông tìm lời giải đáp riêng...
Dẫn chúng tôi ra khu vườn đặc biệt của mình, ông Phan giới thiệu những “gò cao” và nhiều lu vại chứa đầy đồ gốm Chu Đậu sứt, vỡ. Ông sắp riêng ra những chỗ để từng loại như bình, chén, bát, đĩa, ang...
Có chỗ thì toàn bình vôi sứt vỡ, thậm chí có mấy cái lu đựng đầy quai bình vôi, tất cả đều là dòng gốm men Chu Đậu.
Những đồ vật Chu Đậu nguyên lành thì ông bày riêng trong mấy tủ kiếng hay những giá kệ trong các căn phòng. Tất cả đều được “tái sinh” kể từ năm 1975, sau khi im lìm hàng trăm năm trời dưới đáy sông.
Ngắm nghía từng mảnh gốm vẽ lam, từng chiếc bình vôi hay chén bát rất đặc trưng, nhất là ở phần đáy và đế “nhuộm” màu sôcôla, ông Phan khẳng định bộ sưu tập gốm Chu Đậu dưới đáy sông Hương là một trong những điển hình của dòng gốm này.
Bởi lẽ hiện vật khai quật được ở quê hương Chu Đậu thì phần lớn đều là phế phẩm, chưa hẳn đã điển hình cho một dòng gốm.
Hiện vật từ con tàu đắm Cù Lao Chàm, cho dù với số lượng khổng lồ và có nhiều món thuộc hàng đặc biệt, nhưng chỉ được sản xuất trong một giai đoạn có thể rất ngắn, nên không thể điển hình cho suốt hai thế kỷ phát triển của gốm Chu Đậu.
Trong khi bộ sưu tập trục vớt dưới sông Hương, dù hiện vật chiếm phần lớn là đồ vỡ nhưng chắc chắn nó đã từng là đồ lành vì không ai đem đồ phế phẩm đi bán ở các nơi khác.
Ở đáy sông Hương thì gốm Chu Đậu có hầu hết loại hình, thuộc nhiều giai đoạn, từ thuở sơ khai cho đến hưng thịnh và mạt kỳ...
Trước khi rời khu vườn gốm của nhà nghiên cứu Hồ Tấn Phan, ông nói với chúng tôi rằng: Ở đáy sông Hương có rất nhiều gốm Chu Đậu qua các thời kỳ chứng tỏ thuyền buôn từ Hải Dương, Thăng Long vận chuyển vào.
Vậy thì chắc chắn trên thế giới gốm Chu Đậu không chỉ lan tỏa mà còn rất huy hoàng.




Giải mã gốm Chu Đậu - Kỳ 6 : Nằm trong lòng đất Nhật Bản


Vì sao gốm Chu Đậu được phát hiện trong nhiều di chỉ khai quật khảo cổ học trên toàn cõi Nhật Bản?
Giải mã gốm Chu Đậu - Kỳ 6: Nằm trong lòng đất Nhật Bản
Bia ghi dấu các loại hình gốm sứ Trung Quốc, Việt Nam và Thái Lan phát hiện tại di chỉ thành Nakijin, Okinawa
 
"Nghe đọc bài Giải mã gốm Chu Đậu - Kỳ 6: Nằm trong lòng đất Nhật Bản"
Người Nhật rất thích gốm hoa lam
Tháng 10-2010, tôi sang Okinawa (Nhật Bản) dự hội thảo nghiên cứu so sánh về tàu thuyền trong thời cận đại ở Lưu Cầu, Việt Nam và Triều Tiên do Đại học Kansai phối hợp với Đại học Ryukyu tổ chức.
Sau hội thảo, tôi được các đồng nghiệp Nhật Bản đưa đi thăm một số di tích và danh thắng ở Okinawa, trong đó có thành Nakijin (Nakijin-jo) và thành Shuri (Shuri-jo), là hai di sản văn hóa của Okinawa được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới.
Tại thành Nakijin, tôi đến xem một hố khai quật nằm cạnh đền thờ Hỏa thần, là nơi các nhà khảo cổ học Nhật Bản phát hiện rất nhiều đồ gốm Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan... và dựng bia ghi dấu tích.
Tôi nhìn thấy trên bia có hình hai hiện vật gốm Chu Đậu nên đề nghị được xem những hiện vật này.
Các đồng nghiệp Nhật Bản đưa tôi vào phòng trưng bày những hiện vật khai quật được ở thành Nakijin, cho tôi xem rất nhiều đồ gốm Chu Đậu vẽ lam và vẽ men tam thái (nhiều màu).
Một nhà khảo cổ học cho biết: “Đồ gốm Chu Đậu, gốm Champa và gốm Gò Sành men ngọc được tìm thấy khá nhiều ở thành Nakijin và thành Shuri. Trong số đó, gốm Chu Đậu có niên đại khá sớm, từ cuối thế kỷ XIV đến cuối thế kỷ XV”.
Hiện vật gốm Chu Đậu quan trọng nhất tìm thấy ở đây là chiếc hũ hoa lam vẽ hoa, vân hóa long và hồi văn vảy cá. Ngoài ra còn có chiếc liễn vẽ men tam thái, nhiều mảnh vỡ của bát, đĩa và bình tì bà.
Ở di tích thành Shuri, các nhà khảo cổ thuộc Trung tâm Nghiên cứu khảo cổ học Okinawa đã phát hiện rất nhiều mảnh gốm Chu Đậu thế kỷ XV, chủ yếu là đồ gia dụng.
Theo một báo cáo kết quả nghiên cứu và khai quật khảo cổ học do trung tâm này cung cấp thì từ năm 1419-1570, Ryukyu đã phái 116 thương thuyền đi đến các hải cảng ở Đông Nam Á 
để giao thương, trong đó 
có các cảng thị ở Champa và Annam.
Những thương thuyền của Ryukyu đã mua nhiều đồ gốm đưa về đảo quốc này để phục vụ nhu cầu của vương triều Sho đang cai trị Ryukyu.
Vì thời kỳ này người Ryukyu, cũng như người Nhật, chưa biết chế tác gốm tráng men nên họ rất chuộng đồ gốm tráng men của Việt Nam.
Đó là lý do tại sao trong các phế tích cung điện của vương triều Sho có rất nhiều đồ gốm Chu Đậu hoa lam và gốm men tam thái rất tinh xảo.
Năm 2013, tôi trở lại Nhật Bản vài lần để thực hiện đề tài nghiên cứu “Quan hệ giữa Nhật Bản và miền Trung Việt Nam từ thế kỷ VIII đến thế kỷ XVIII” .
Trong các chuyến đi này, tôi đã tới những di chỉ và trung tâm nghiên cứu khảo cổ học ở các thành phố: Sakai (phủ Osaka), Naha (tỉnh Okinawa), Hakata và Dazaifu (tỉnh Fukuoka) và Nagasaki (tỉnh Nagasaki)...
Tại những nơi này, tôi lại bắt gặp nhiều đồ gốm được các nhà khảo cổ học Nhật Bản khai quật tại những phế tích thành lũy và cảng thị ven biển của Nhật Bản từ nhiều năm trước, gồm: gốm Champa, gốm Phước Tích (Thừa Thiên - Huế), gốm Thanh Hà (Quảng Nam), gốm Gò Sành (Bình Định), gốm Chu Đậu (Hải Dương), gốm Thăng Long...
Riêng đồ gốm Chu Đậu được tìm thấy nhiều nhất là ở Sakai (có niên đại vào thế kỷ XVI-XVII), Kyonouchi Utaki và phía bắc đảo Okinawa (thế kỷ XV-XVI), Fukuoka (thế kỷ XVI-XVII)...
Đặc biệt, hàng chục hố khai quật trong vùng thương cảng cổ của Nagasaki đã xuất lộ đồ gốm cổ của Việt Nam, nhiều nhất là gốm Chu Đậu với các loại hình: bát, đĩa, hũ, lọ tì bà gốm hoa lam và bát trà chân cao gốm men tam thái dùng trong nghi lễ trà đạo.
Giải mã gốm Chu Đậu - Kỳ 6: Nằm trong lòng đất Nhật Bản
Một số mảnh gốm Chu Đậu phát hiện tại di chỉ thành Nakijin - Ảnh: Trần Đức Anh Sơn
Hơn 30 điểm khảo cổ có gốm Việt
Tại hội thảo “Lịch sử và triển vọng quan hệ Việt Nam - Nhật Bản nhìn từ miền Trung Việt Nam” tổ chức ở Đại học Đà Nẵng (tháng 11-2013), TS Nishino Noriko đã trình bày tham luận “Lịch sử giao thương Việt Nam và Nhật Bản.
Những phân tích từ đồ gốm Việt Nam giao dịch với Nhật Bản”, giới thiệu kết quả nghiên cứu đồ gốm Việt Nam phát hiện tại các di chỉ khảo cổ ở Nhật Bản, do cô và người chồng quá cố là nhà khảo cổ học Nishimura Masanari đã thực hiện trong nhiều năm qua.
Theo đó, có hơn 30 địa điểm ở Nhật Bản, chủ yếu ở vùng phía đông nam đảo Honshu, phía đông bắc đảo Kyushu và các đảo nhỏ thuộc quần đảo Okinawa, đã tìm thấy đồ gốm cổ của Việt Nam.
Những đồ gốm này có niên đại từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XVII, trong đó đồ gốm Chu Đậu chiếm tỉ lệ lớn, cả số lượng, phạm vi phân bố và có phổ niên đại trải dài suốt bốn thế kỷ nói trên, nhưng nhiều nhất là đồ gốm thuộc thế kỷ XV và XVI.
Giải thích về sự xuất hiện của các đồ gốm Việt Nam, đặc biệt là đồ gốm Chu Đậu, trong nhiều di chỉ khảo cổ ở phía nam Nhật Bản, các nhà khảo cổ học cho rằng đó là kết quả của hoạt động hải thương giữa Nhật Bản với Việt Nam trong các thế kỷ XIV - XVII, khi mà các thương thuyền Nhật Bản mở rộng mạng lưới buôn bán tới các nước Đông Nam Á.
Việt Nam lúc đó có một hệ thống cảng thị ven biển, trải dài từ miền Bắc tới miền Trung, thuận lợi cho thuyền buôn Nhật Bản tới giao thương và đồ gốm Việt Nam là mặt hàng được người Nhật mua nhiều nhất để bù lại cho việc thiếu hụt đồ sứ Trung Hoa do chính sách “hải cấm” của triều Minh (kéo dài từ năm 1371-1567).
Chỉ sau khi xảy ra cuộc chiến tranh Nhật Bản - Triều Tiên vào cuối thế kỷ XVI, nhiều thợ gốm người Triều Tiên bị bắt sang Nhật Bản và đã du nhập kỹ thuật chế tác gốm sứ của Triều Tiên vào vùng Arita (bắc Kyushu) thì kỹ nghệ gốm sứ Nhật Bản mới bắt đầu phát triển.
Lúc đó thì đồ gốm Việt Nam mới giảm dần rồi ngưng nhập vào thị trường Nhật Bản.
Giải mã gốm Chu Đậu - Kỳ 6: Nằm trong lòng đất Nhật Bản
Sơ đồ mạng lưới hải thương giữa Nhật Bản với Trung Quốc, Việt Nam và các nước Đông Nam Á vào các thế kỷ XV-XVIII - Ảnh: Trần Đức Anh Sơn
Tỏa khắp Đông Nam Á
Theo nhà khảo cổ học người Nhật Bản là GS Aoyagi Yoji, đến năm 1990 có 32 di chỉ khảo cổ ở các nước Đông Nam Á có phát hiện đồ gốm Việt Nam, và phần lớn là gốm hoa lam.
Trong đó, Malaysia có 9 di chỉ, Brunei có 2 di chỉ, Philippines có 10 di chỉ, Indonesia có 11 di chỉ.
Như vậy, từ cuối thế kỷ XIV đến cuối đầu thế kỷ XVII, gốm Chu Đậu cùng với những dòng gốm khác của Việt Nam đã có một vị thế quan trọng trong thị trường gốm sứ ở Nhật Bản và ở các nước Đông Nam Á hải đảo đương thời, mà bằng chứng là sự hiện diện của vô số hiện vật gốm Chu Đậu trong các di chỉ khảo cổ học và trong các con tàu đắm được phát hiện ở Nhật Bản và khu vực Đông Nam Á trong nhiều năm qua.




Chợ Hoa phố tập nập những ngày giáp Tết

 Bên cạnh sự đổi thay của phố phường, chợ hoa Hàng Lược cổ kính vẫn tồn tại và nhộn nhịp mỗi độ Tết đến, xuân về như một nét đẹp không thể thiếu của đất Hà Thành.
Có lẽ, không nhiều người trẻ tuổi sống ở Hà Nội ngày nay biết được có một chợ hoa lâu đời nhất hàng năm vẫn họp đều đặn sát Tết âm lịch với tuổi thọ đã vắt qua 5 thế kỷ. Đó không phải là Quảng An, không phải Hoàng Hoa Thám, chợ cây cảnh ở Bưởi… mà là chợ hoa trên phố Hàng Lược.
Ngày xưa, Hàng Lược là một phố hàng của đất Hà Thành chuyên sản xuất và bán lược chải đầu. Phố Hàng Lược theo sử sách ghi lại có từ thời nhà Lê. Tới đầu thế kỷ 20, nghề làm lược ở đây đã mất hẳn và thay thế vào đó là những cửa hàng, cửa hiệu san sát nhau. 
cho hoa hang luoc4

Chợ hoa hàng lược xưa

Tuy nhiên, giữa chốn phồn hoa đông đúc đó, người dân Hàng Lược nói riêng và phố cổ nói chung trong suốt 500 năm qua vẫn được thưởng thức một “đặc sản” rất riêng của phố cổ đó là chợ hoa Hàng Lược.
cho hoa hang luoc1

Chợ hoa bắt đầu nhộn nhịp từ ngày 23 tháng Chạp

Bắt đầu được mở từ khoảng 20 tháng chạp nhưng thường từ sau Tết ông Công, ông Táo chợ hoa Tết Hàng Lược mới thực sự tấp nập và đông đúc. Năm nay, thời tiết mưa lạnh cũng đã phần nào ảnh hưởng tới sự nhộn nhịp của chợ Tết truyền thống này, tuy vậy, từ giờ cho đến khi được nghỉ Tết, thời tiết có thể tiến triển tốt hơn thì hứa hẹn chợ hoa này vẫn là nơi thu hút khá đông người Hà thành mỗi độ xuân về.
Những dịp 27,28,29 Tết, chợ hàng Lược và các tuyến phố lân cận luôn chật kín người qua lại. Đôi khi, phải chen chân mới có thể dạo bước qua đây. Tuy vậy, đi chợ Tết Hàng Lược vẫn là thói quen của nhiều người Hà Nội. Bởi họ đến đây không chỉ để mua sắm mà còn để du xuân, tận hưởng cái không khí Tết của Hà Nội. Ngoài ra, chợ hoa Tết Hàng Lược cũng gần cận với phố đồ trang trí Hàng Mã, phố bán hoa giả Hàng Rươi, phố quần áo Hàng Ngang, Hàng Đào… và thế là đi dạo một vòng qua những tuyến phố đó cũng có thể tận hưởng được phần nào cái không khí tấp nập, rộn ràng của ngày Tết - thứ cảm xúc xuân đang dần nhạt vị bởi sự bận rộn, xô bồ của xã hội hiện đại - mà nhiều người cũng đang cố gắng muốn tìm lại.
Đến chợ hoa Hàng Lược, người dân sắm Tết có thể thong dong đi từ phố này tới phố khác để mua hàng và người mua có thể cảm nhận được không khí cổ kính, một hương vị Tết từ ngày xa xưa vẫn còn đâu đó ở phố cổ Hà Nội.
Vẫn như mọi năm, những mặt hàng bày bán tại chợ hoa Hàng Lược sẽ là những món đồ cổ, giả cổ, đồ trang trí Tết và nhiều nhất là hoa, cây cảnh. Tuy vậy, tại chợ Tết Hàng Lược cũng có khá nhiều gian hàng bán đồ “chẳng liên quan” như ví thanh lý, nước hoa nhái, đồ điện tử xuất xứ Trung Quốc… làm giảm mất phong vị Tết đặc trưng của người Hà thành
cho hoa hang luoc10

Hoa đào bắt đầu được bày bán nhiều

cho hoa hang luoc3
Du khách nước ngoài thích thú dạo bộ tại chợ hoa phố cổ
cho hoa hang luoc
 
cho hoa hang luoc2
Các loại hoa giả cũng được bày bán nhiều tại chợ Hoa
cho hoa hang luoc5
Đồ gốm sứ được bày bán nhiều
cho hoa hang luoc6
 
cho hoa hang luoc7
 
cho hoa hang luoc8
 
Phát biểu tại lễ khai mạc chợ hoa truyền thống Tết Nguyên đán Bính Thân 2016, đồng chí Nguyễn Anh Quân - Ủy viên Ban Thường vụ Quận ủy, Phó chủ tịch UBND quận khẳng định, nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể, gìn giữ nét đẹp văn hóa của người Hà Nội, quận Hoàn Kiếm đã duy trì và nâng cao chất lượng hoạt động chợ hoa Tết truyền thống để phục vụ nhân dân mua sắm và thưởng lãm hoa, cây cảnh vui đón tết ngày càng tốt hơn.
Năm nay, bên cạnh việc duy trì chợ hoa tết truyền thống, quận đã chú trọng tổ chức sắp xếp các ngành hàng, trang trí, chiếu sáng chợ hoa truyền thống, tổ chức nhiều hoạt động văn hóa nghệ thuật phục vụ nhân dân và du khách khi tới mua sắm, tham quan chợ hoa tết… tạo dựng một không gian chợ chợ truyền thống, đảm bảo các yếu tố thuận lợi, an toàn, văn minh lịch sự, giữ gìn cảnh quan, môi trường sạch đẹp phục vụ nhu cầu mua bán hoa, cây cảnh và các mặt hàng tết của nhân dân Thủ đô.
Đây là sự kiện hoạt động kinh tế - văn hóa thường niên, có ý nghĩa quan trọng chào Xuân Bính Thân 2016; đồng thời góp phần lớn vào việc quảng bá, giới thiệu các giá trị khu phố cổ Hà Nội tới người dân, du khách trong nước và quốc tế.




 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons