Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2015

Những bài vọng cổ vang bóng - Kỳ 4: Hơn 40 năm ca Tần Quỳnh khóc bạn

NSƯT Diệu Hiền nay đã 70 tuổi, bị bệnh tim cùng nhiều bệnh khác, yếu đi nhiều lắm. Vậy mà không hiểu sao khi bà cất tiếng ca bài vọng cổ Tần Quỳnh khóc bạn thì giọng vẫn sang sảng, đầy dũng khí nhà tướng. Bài hát đã theo bà đi tận sang Mỹ chinh phục cả khán giả kiều bào.

NSƯT Diệu Hiền ca bài Tần Quỳnh khóc bạn - Ảnh: H.K
NSƯT Diệu Hiền ca bài Tần Quỳnh khóc bạn - Ảnh: H.K
“Tác giả phải trả tiền cho nghệ sĩ”
Thật ra bài này soạn giả Viễn Châu viết cho nghệ sĩ Thanh Hải ca. Đó là nghệ sĩ được mệnh danh “vua Tao Đàn”, nghĩa là ông ngâm thơ điệu Tao Đàn rất hay. Thanh Hải một thời lừng lẫy, từng đoạt giải Thanh Tâm năm 1967, và lãnh cát sê khủng của đoàn Kim Chung, Kim Chưởng cao hơn cả nhiều ngôi sao đương thời như Út Trà Ôn, Thành Được, Hữu Phước, Minh Cảnh, Hùng Cường...
Nói như vậy để biết Diệu Hiền đã có một “đối trọng” cỡ nào. Bài này Thanh Hải thu đĩa phát hành rộng rãi. Nhưng một hôm, vào khoảng năm 1974, tình cờ Diệu Hiền nghe được, và bà lắng tai rất kỹ, thấy hình như Thanh Hải phát âm dấu sắc và dấu nặng chưa “đã” lắm. Bà tiếc quá. Thế là bà tự chép ra, tập ca một mình. Bà ca hoài cho tới lúc có phong trào mở quán nghệ sĩ thì bà vô đó ca luôn. Khán giả vỗ tay không tưởng tượng nổi. Đến mức soạn giả Viễn Châu nghe đồn cô đào Diệu Hiền ca bài của ông hay lắm, ông cũng tò mò đi coi. Bữa đó, ông cũng vô quán nghệ sĩ ngồi lắng tai “phúc khảo”. Diệu Hiền nói: “Tôi thấy ba Bảy ngồi ở hàng ghế nhìn lên là tôi run rồi. Ba Bảy hồi đó lừng lẫy tiếng tăm, mình ca bài của ba mà không đạt sợ ba rầy nữa à”.
Nghệ sĩ thường gọi soạn giả Viễn Châu (Bảy Bá) bằng tiếng “ba” âu yếm như thế. Nhưng khi Diệu Hiền vừa dứt bài, soạn giả Viễn Châu đã cầm một bông hồng bước lên sân khấu nói: “Từ trước tới nay nghệ sĩ mà ca thì phải trả tiền cho tác giả. Nhưng bây giờ ngược lại, tôi là tác giả phải trả tiền cho nghệ sĩ Diệu Hiền vì cô hát bài của tôi hay quá!”. Thật ra, ông có phần nói đùa cho vui không khí. Nhưng không, ông lại tặng tiền thật cho Diệu Hiền kẹp trong cái bông. Tặng đến 500 đồng. Thời ấy khán giả chỉ tặng chừng vài chục đồng thôi, mà Viễn Châu dám “xử đẹp” như thế chứng tỏ ông rất ưng ý Diệu Hiền khi hát lại bài của ông theo một cách khác, và ông coi trọng một tài năng thực sự.
Một tài năng lạ thường
Diệu Hiền đúng là một tài năng rất lạ. Bà có chất giọng sang sảng, ca rất mạnh mẽ, hào hùng, cho nên bà chuyên đóng kép võ. Nhưng dù có ca mạnh mẽ tới đâu thì bà vẫn đem tới sự ngọt ngào, rung động cho khán giả, chứ không khô khan, võ biền. Bà ca bài võ mà người ta khóc mới hay. Bài Tần Quỳnh khóc bạn là câu chuyện kết nghĩa giữa Tần Quỳnh, La Thành và Đơn Hùng Tín, sau đó La Thành xử trảm Đơn Hùng Tín, khiến Tần Quỳnh đau đớn vì nghĩa đệ huynh. Bài viết cho giọng nam, nhưng Diệu Hiền lại dám hát giọng nữ, vậy mà khán giả không hề thấy lượng sượng tí nào, lại còn mê mẩn, nghẹn ngào. Người sành vọng cổ sẽ thấy những nhấn nhá và rung ngân của bà khiến người nghe sởn cả gai ốc nhưng “đã” tận ruột gan.
Thế là từ quán nghệ sĩ, bài Tần Quỳnh khóc bạn đã theo chân Diệu Hiền bước ra sân khấu lớn, đi sô khắp cả nước. Diệu Hiền nói: “Tôi già rồi, không lẽ ca bài tình yêu coi sao được. Tôi thích bài này vì chất mạnh mẽ, bi hùng của nó hợp với giọng của tôi. Khán giả yêu cầu bài này hoài, tôi càng mừng. Tôi có xin phép soạn giả Viễn Châu cho tôi giảm bớt, bài này từ 6 câu tôi chỉ ca 4 câu thôi, vì có hai đoạn ý nghĩa hơi na ná nhau. Bởi bài chỉ có một người ca, mà dài quá thì khán giả ngán. Soạn giả Viễn Châu đồng ý tôi mới dám ca đó chứ. Ai nhìn vô nguyên tác 6 câu thì đừng ngạc nhiên”.
Và sau đó, Diệu Hiền được mời đi sô sang Mỹ hát đúng bài này. Nhưng hôm đó, bà bầu Thúy Uyển đã giật mình vì thấy Diệu Hiền bước ra với… chiếc áo dài. Bà tưởng Diệu Hiền đem theo áo giáp mặc vào để đúng với nhân vật Tần Quỳnh. Diệu Hiền nói: “Cô yên tâm, tôi mặc áo dài ca vẫn “ra” võ tướng mà”. Bà Thúy Uyển vẫn lo lắng: “Ở đây bọn trẻ không dám vậy đâu. Ca bài nào thì các em rất cần trang phục hỗ trợ để tăng hiệu quả với người xem”. Diệu Hiền cười trấn an, và kiên quyết bước ra sân khấu với chiếc áo dài. Nhưng khi bà cất tiếng, cả khán phòng hàng ngàn người im phăng phắc. Rồi vỡ òa một trận pháo tay. Lâu lắm rồi họ mới nghe lại Diệu Hiền. Và kinh ngạc vì chất giọng vang rền, vì cái bi hùng mạnh mẽ, vì sự ngọt ngào huynh đệ mà chưa chắc một giọng nam nào khác có thể diễn tả nổi. Giọng nam nhưng không có nội lực vẫn không ca ra bài này. Nhất là giọng nam của các diễn viên trẻ bây giờ, nghe vẫn thấy mỏng manh thế nào. Vì thế, biết bao lâu chưa thấy ai dám ca Tần Quỳnh khóc bạn. Thôi thì, sau nghệ sĩ Thanh Hải, Diệu Hiền cứ “độc cô cầu bại” với bài ca này chưa biết đến bao giờ.
Hoàng Kim


Những bài vọng cổ vang bóng - Kỳ 3: Trương Chi Mỵ Nương

Bài vọng cổ Trương Chi Mỵ Nương với nỗi buồn thê thiết đã rung động biết bao trái tim khán giả. Tiếng tiêu sầu của anh lái đò trên sông vắng đâu chỉ hớp hồn nàng tiểu thư khuê các, mà còn hớp hồn người mê vọng cổ suốt mấy thập niên.

NSƯT Mỹ Châu và NSƯT Thanh Tuấn - Ảnh: M.CNSƯT Mỹ Châu và NSƯT Thanh Tuấn - Ảnh: M.C
Bài vọng cổ từ ly cà phê đen
Đúng hơn, đây là bài tân cổ giao duyên. Chuyện tình buồn của Trương Chi Mỵ Nương đã được tác giả Mai Thiết Lĩnh viết thành bài tân nhạc rất hay, nhưng đến tay tác giả Quế Anh một lần nữa thì phần vọng cổ phối hợp vào tạo ra một “kịch bản” lung linh hơn.
Trương Chi: Thưa tiểu thơ! Tôi là kẻ đêm đêm trỗi khúc tiêu buồn trên sông lạnh, lòng chỉ muốn gợi nỗi niềm riêng cho áng mây xa, cho vầng trăng sáng. Không ngờ khúc nhạc kia vọng đến cung son khiến cho tiểu thơ buồn thảm, dập đầu xin ơn trên tha thứ tội vô… tình.
Mỵ Nương: Người đây là kẻ từng đêm trên sông sâu trỗi khúc nhạc buồn?
Trương Chi: Vâng! Tôi là kẻ nghèo nàn cô độc, một con thuyền trôi dạt giữa sông trăng. Chỉ có khúc tiêu sầu bậu bạn gửi gắm tâm tình cho bãi gió ghềnh trăng. Đâu ngờ rằng, tiếng trúc bi thương vang vọng đến lầu vàng, làm não lòng người khuê các.
NSƯT Thanh Tuấn và NSƯT Mỹ Châu cùng có chất giọng trầm, khi cùng hát với nhau đã tạo nên một hòa âm thật tuyệt, cộng với phần hát đệm của nghệ sĩ Chí Tâm cũng trầm buồn rung rung làm nên một kịch bản ngắn gọn mà ngọt ngào không thể tả.
Thật ra Quế Anh chính là bút danh khác của soạn giả Loan Thảo, một bậc kỳ tài mà giới sân khấu cho rằng ông chỉ đứng sau soạn giả Viễn Châu. NSƯT Thanh Tuấn kể: “Lúc tôi hát bài này là năm 1973, khoảng 23 - 24 tuổi. Tôi được mời tới Hãng đĩa Việt Nam của cô Sáu Liên để hát thu âm. Nhưng bài hát thì… chưa có. Loan Thảo nói với tôi: “Mầy chờ một lát, tao đưa liền”. Thế là ông ra quán cà phê kêu một ly đen và đốt thuốc lá liên tục. Ông thường sáng tác như vậy đó. Cứ cà phê đen và thuốc lá một hồi là ra bài ca. Lát sau ông bước vô đưa tôi hai câu vọng cổ bài Trương Chi Mỵ Nương, bảo mầy ca trước đi, lát sau tao đưa hai câu cuối. Tôi với Mỹ Châu dợt đờn, rồi ca, xong Loan Thảo đưa tiếp hai câu nữa. Kinh khiếp cho sức sáng tạo của Loan Thảo”. Giới sân khấu cũng hay nói như vậy, “kinh khiếp”, nhưng quả là tài năng đáng nể.
Khối tình Trương Chi chưa dễ tan
Thanh Tuấn và Mỹ Châu dợt đờn chừng 2 lần là ca được ngay. Hai nghệ sĩ này nổi tiếng trong làng cải lương là hát chắc nhịp, riêng Mỹ Châu có thể gọi luôn là “siêu nhịp”. Cho nên Loan Thảo không cần cho dợt trước là vậy. Nhưng ông đã đo ni đóng giày cho Thanh Tuấn - Mỹ Châu từ lâu rồi, đã “nuôi” bài Trương Chi Mỵ Nương từ hồi nào, giờ chỉ cần bật ra. Giọng Thanh Tuấn trầm buồn, đôi khi ngân nga như sóng nước dễ liên tưởng đến không gian của Trương Chi với sông dài - trăng sáng - thuyền lênh đênh - tiếng tiêu bay quấn quít… Và khi gặp nàng tiểu thư thì anh lái đò không còn vô tư như trước nữa, mà choáng váng vì tiếng sét ái tình. Tiếng tiêu sầu càng thêm sầu, cho đến khi chàng gục chết. Nhiều khán giả nói với Thanh Tuấn: “Trong câu chuyện huyền thoại thì Mỵ Nương chết vì tiếng tiêu của Trương Chi, nhưng trong bài vọng cổ thì khán giả “chết” vì giọng ca Thanh Tuấn!”. Thật sự khó ai có thể thay thế giọng ca này để làm một Trương Chi bạc phận. Nhưng Thanh Tuấn thì không bạc phận tí nào, anh cứ ca bài này suốt mấy chục năm nay, lấy không biết bao nhiêu tràng pháo tay của khán giả.
Nghệ sĩ Mỹ Châu đóng vai nàng Mỵ Nương mê tiếng sáo, mê nghệ thuật, nhưng không vượt qua được thói đời thường tình khi nhìn thấy gương mặt của Trương Chi. Nàng không chết vì thất tình, mà chết vì sự cầu toàn của chính bản thân mình. Một chút yếu đuối, một chút mơ màng, một chút sầu mộng, não lòng của cô tiểu thư mong manh dễ vỡ, được giọng ca Mỹ Châu truyền tải thật hay. Mỹ Châu vốn có đôi mắt buồn, hình như cũng giống nàng Mỵ Nương, cho nên Loan Thảo mới đo ni đóng giày. Nhưng Mỹ Châu từng nói: “Ngoài đời tôi không yếu đuối như Mỵ Nương đâu. Thật ra câu chuyện chỉ là ước lệ nhắc người ta nên tỉnh táo nhìn rõ những cái gọi là “đời thường” của người nghệ sĩ. Đừng thần thánh họ, tội nghiệp họ. Nghệ thuật là nơi họ phát tiết tinh hoa, nhưng khi trở lại đời thường thì họ cũng có những thói xấu, nếu yêu nghệ sĩ thì phải yêu họ trong nghệ thuật lẫn đời thường”.
Thanh Tuấn bảo: “Hình như chỉ có Mỹ Châu là hát vai Mỵ Nương với tôi phù hợp nhất. Sau này không có Mỹ Châu, tôi vẫn hát chung với các cô đào trẻ, nhưng nói thật là chất giọng không hợp lắm, trừ Cẩm Tiên, giọng hơi trầm, có độ ngân đầy đặn, tôi thấy ăn ý”. Giờ mà nghe Trương Chi cất giọng mộc không cần đờn, không cần micro, mới hiểu tại sao người ta mê mẩn anh lái đò này đến vậy. Giọng Thanh Tuấn còn rất khỏe, ngân vang, như bay trên sóng nước. Khối tình Trương Chi chưa dễ tan trong lòng khán giả…


Những bài vọng cổ vang bóng - Kỳ 2: 'Hoa lan trắng' an ủi một cuộc đời

NSƯT Út Bạch Lan hồi trẻ đã được mệnh danh là “Sầu nữ” bởi bà ca bài Hoa lan trắng nghe mà não ruột. Bài hát bắt nguồn từ cuộc đời quá buồn của bà, cộng thêm mối tình trắc trở với nghệ sĩ Thành Được, khiến nhạc sĩ Viễn Châu phải cầm bút viết tặng bà bài vọng cổ để đời.

Những bài vọng cổ vang bóng - Kỳ 2: 'Hoa lan trắng' an ủi một cuộc đờiThành Được và Út Bạch Lan - Ảnh: T.L
Út Bạch Lan nói bây giờ bà đi hát ở đâu thì một hồi khán giả cũng yêu cầu hát bài Hoa lan trắng. Buồn muốn chết luôn, vậy mà khán giả vẫn nghe. Có lẽ trong đó chứa đựng nỗi niềm không chỉ riêng bà mà còn của nhiều thân phận phụ nữ khác nữa.
Từ người ăn xin thành ngôi sao cải lương
Bài này soạn giả Viễn Châu viết tặng Út Bạch Lan trong giai đoạn bà và chồng là nghệ sĩ Thành Được đang trục trặc với nhau, bà đau khổ vô cùng. Thật ra, cuộc đời Út Bạch Lan không chỉ khổ từ khi có chồng mà đã khổ từ lúc ấu thơ. Bà và danh cầm Văn Vĩ từng dắt díu nhau đi khắp các chợ ở Sài Gòn vừa đàn hát vừa ăn xin. Giọng hát ngọt ngào của cô bé nghèo và tiếng đàn tuyệt vời của cậu bé mù đã từ đó mà bay lên. Văn Vĩ trở thành “ngôi sao” trong làng nhạc cổ thì Út Bạch Lan cũng thành “ngôi sao” trên sân khấu cải lương.
Rồi bà kết hôn với “ngôi sao” Thành Được, một kép đẹp lẫy lừng, ca hay diễn giỏi. Nhưng ông có tính đào hoa, nên Út Bạch Lan buồn khổ nhiều năm trời. Chuyện của bà trong giới cải lương ai cũng biết, và đến tai soạn giả Viễn Châu. Ông có tính thương nghệ sĩ như con cháu, và nghệ sĩ cũng coi ông như ba. Ông bèn viết một bài vọng cổ để an ủi Út Bạch Lan, tựa là Hoa lan trắng. Không ngờ, Út Bạch Lan ca bài này quá thấm thía đến nỗi người ta gọi luôn bà là “Sầu nữ”.
Nhưng Út Bạch Lan dịu dàng nói: “Bây giờ tôi không muốn nói gì dính tới Thành Được nữa, vì hai người đã già rồi, mọi thứ hãy cho qua. Nghĩ lại thì hồi trẻ ai cũng có lỗi. Ổng thì trăng hoa, còn tôi thì nhỏ nhặt. Đã biết có chồng đẹp trai, lại tài danh, nhiều cô đeo đuổi, thì mình cũng nên chịu đựng một chút. Đằng này mình cũng ghen. Nhưng vì giữ cho cái tên Thành Được - Út Bạch Lan vẫn là một “liên danh” đẹp trên sân khấu nên tôi có phần nhỏ nhẹ hơn. Mà nói gì thì cũng không nên nói tốt cho bản thân, nhất là khi kể chuyện một hồi thể nào cũng hưng phấn rồi nói quá lên. Thôi, vợ chồng không tình cũng nghĩa, bỏ qua hết”.
Tái ngộ chồng cũ nơi đất khách
Và chính cái nghĩa này mà Thành Được đã mời bà sang Mỹ hát chung với ông như ngày xưa hai người từng là đào kép chánh đứng chung trên sân khấu. Thành Được sang Mỹ năm 1984, vài năm sau ông và bà đã có dịp tái ngộ đến mấy lần, lần gần nhất là 2007, khi đó cả hai cùng hát trích đoạn Nửa đời hương phấn lớp cuối khi cô Hương đi tu, anh Tùng đến tìm gặp nói lời xin lỗi.
Út Bạch Lan nhớ lại: “Thật ra tôi không hề biết là hát chung với ổng, vì bà bầu khi mời không nói rõ. Chừng tới nơi thì mới biết là Thành Được có mặt. Mà thôi, cũng tội ổng, năm nay yếu lắm rồi, ổng 82 tuổi, tôi 81 tuổi, như đèn trước gió. Ổng chỉ mơ ước về VN mà đi không nổi. Ổng nói ổng muốn về VN hát một lần rồi chết cũng vui. Làm sao toại nguyện được! Chỉ cầu Phật cho ổng nếu có ra đi thì ra đi bình yên. Đối với tôi, mọi thứ đã là quá khứ, chỉ lấy tình thương mà đối đãi với nhau như lời Phật dạy”.
Có lẽ do Út Bạch Lan đã đi chùa, theo phật từ mấy chục năm nay nên tâm bà an tịnh, nhẹ nhàng. Nhưng dù bà có bỏ qua quá khứ thì bài Hoa lan trắng vẫn còn để đời với giọng ca quá hay, nên đi đâu người ta cũng yêu cầu bà hát. Hơi ca bây giờ dù vẫn còn nỗi buồn chung của đời phụ nữ nhưng nghe hình như bớt buồn hơn xưa, bớt u sầu, phiền não. Bà cười: “Đời buồn thì ai cũng có, nhưng nếu mình có một hướng đi tích cực thì sẽ nhẹ nhàng hơn. Như tôi đi làm từ thiện, thấy nhiều số phận còn cay đắng hơn mình, từ đó không còn băn khoăn nữa. Khi mình hướng ra cộng đồng thì mình ít rơi vào trạng thái tiêu cực. Nói thiệt, có khi tôi muốn ca bài khác, tôi hỏi khán giả: “Nghe Hoa lan trắng hoài cô bác không ngán sao?”. Bà con trả lời: “Không ngán, không ngán!”. Vậy là mình phải hát Hoa lan trắng thôi”.
Cuối cùng bà cảm niệm một điều: “Nghệ sĩ đừng coi rẻ tác giả và thầy đờn, vì chính họ đưa mình lên vị trí vinh quang. Họ viết đúng chất giọng, đúng tâm tư tình cảm thì mình ca mới bật lên. Hồi đó tôi và Thành Được thường được “ba Bảy Viễn Châu” viết bài cho hát, chúng tôi muốn sửa một chữ cũng phải hỏi ý kiến ông, chứ không dám tự tiện sửa. Đôi khi tác giả và nhạc sĩ như thầy của mình vậy. Mình có tôn sư trọng đạo như thế thì mình mới thành đạt”.

Những bài vọng cổ vang bóng: Lệ Thủy - Minh Vương 40 năm cùng Bánh bông lan không ngán

NSND Lệ Thủy và NSƯT Minh Vương đã hát chung bài vọng cổ rất dễ thương là Bánh bông lan, với lời ca mộc mạc e ấp của một chàng trai thành thị cùng cô gái quê bán bánh.

NSND Lệ Thủy và NSƯT Minh Vương hát bài Bánh bông lan - Ảnh: H.Kim
NSND Lệ Thủy và NSƯT Minh Vương hát bài Bánh bông lan - Ảnh: H.Kim
Chàng trai nhân một chuyến đi về tỉnh lỵ miền Tây Nam bộ, ngồi xe đò ghé trạm, được cô bán bánh bông lan mời mua. Ăn xong thì mê bánh vì quá ngon, rồi mê luôn cô bán bánh hiền lành, chịu thương chịu khó. Thế là cứ đi hoài về tỉnh, cứ mua bánh hoài của cô ấy. Rồi nói xa nói gần, nào muốn học làm bánh, nào muốn ăn bánh cả đời, ý để cô hiểu là mình muốn “rinh” cô về nhà.
Cô gái tinh ý và cũng hơi lém lỉnh, hễ anh chàng nói vô là cô ta nói dạt ra, nào là để em giới thiệu nhỏ bạn, nhỏ em gái, nhỏ cháu... Cuối cùng tức quá, anh chàng hạ giọng nói luôn một hơi là “tui... tui nhớ cô Hai”. Bản nhạc dứt, không biết cô nàng có nhận lời tỏ tình của anh chàng hay không, nhưng chính chỗ mập mờ đó mà khán giả tha hồ tưởng tượng về một tình yêu mới chớm. Hy vọng là cô nhận lời. Bởi anh chàng tội nghiệp quá đi, chân thành quá đi. Bài hát chỉ có vậy mà hớp hồn người nghe mấy chục năm trời.
Bài ca “lời lẽ quê mùa gần chết”
Nghệ sĩ Lệ Thủy kể: “Hồi tôi hát bài đó thu đĩa trong hãng đĩa VN thì tôi chừng 25 - 26 tuổi thôi. Tác giả Loan Thảo đưa cho tôi bài hát, tôi đã ngoảnh mặt đi, vì tôi ghét ảnh quá trời. Tôi nói với ảnh, sao mấy nghệ sĩ khác được hát những bài có lời ca sang trọng, còn tôi thì anh toàn viết cho mấy bài lời lẽ quê mùa gần chết, như Lý con sáo, Cây trúc xinh, Lý chim quyên... Tôi không ca nữa đâu. Loan Thảo cười: “Em tin anh đi. Anh viết cho em mấy bài này em ca sẽ “để đời” luôn đó. Giọng của em mộc mạc, em nên ca những bài cũng dễ thương mộc mạc như vậy”. Tôi thấy ảnh khuyên nên chịu ca. Ai ngờ đúng như ảnh nói, bài hát đã theo tôi suốt 40 năm, đi đâu, hát cái gì rồi khán giả cũng yêu cầu tôi và anh Minh Vương trở lại hát Bánh bông lan”.
Hầu như khán giả mê cải lương đều thuộc bài đó. Trên sân khấu Lệ Thủy hát thì ở dưới khán phòng khán giả cũng nhép miệng hát theo. Thật vui. Mới đây Lệ Thủy đi hát ở Giồng Riềng (Kiên Giang) trong một chương trình dành cho nông dân, có một ông chủ nuôi tôm đã leo lên sân khấu song ca với Lệ Thủy bài Bánh bông lan, vì hôm đó không có Minh Vương. Mà ông ta có giọng ca y hệt Minh Vương, khiến Lệ Thủy ngạc nhiên quá trời, và cả khán phòng vỗ tay như sấm.
Nhắc tuồng bằng... gò má!
Hát bài này mấy chục năm dĩ nhiên là Lệ Thủy và Minh Vương thuộc như cháo, nhưng cũng có mấy lần nhầm lẫn một tí. Bởi bài hát có hai lời ca na ná nhau, rất dễ lộn. Lời trước là: “Bông lan cánh trắng nhụy vàng. Qua thương cô nàng khéo nướng bánh bông lan. Xe đò lục tỉnh thênh thang. Quen hơi, nhớ tiếng quá giang tìm dìa. Quá giang tìm dìa...”. Còn lời sau thì: “Bông lan má ấp miệng kề. Thương anh bởi câu hò lẫn tiếng hát đưa duyên. Con đò Vàm Cỏ lênh đênh. Quen môi, bén miếng bước lên tìm mình. Bước lên tìm mình...”. Có lần nghệ sĩ Minh Vương hát đảo ngược lại, cho nên sau này Lệ Thủy thường “ra hiệu” cho ông bằng cách kín đáo chỉ vô gò má mình, nghĩa là hát lời sau, còn nếu không dĩ nhiên hiểu là hát lời trước.
Thông cảm cho Minh Vương vì giai đoạn ông bị suy thận sức khỏe xuống dốc thê thảm, nhưng vì nể tình khán giả mà ông đi hát, nên có khi tâm trí bị mệt mỏi bất thường. Sau này được thay thận, ông đã “ngon lành” hơn. Nhưng Lệ Thủy cẩn thận, cứ ra ám hiệu cho ông. Ngón tay bà nghiêng nghiêng trên má cứ như làm duyên, nhưng kỳ thực là đang “ném phao” cho Minh Vương, ai mà biết được. Bà cười: “Nghĩ cũng vui chứ bộ. Tôi với anh Minh Vương lẫn khán giả ăn bánh bông lan mấy chục năm mà hổng ngán, càng ăn càng thấy ngọt”.
Còn vui nữa là có lần Lệ Thủy về Cần Thơ hát, chiều bà ra chợ mua bánh bông lan, thì cô bán hàng reo lên: “Ủa, chị! Trời ơi, má em thích chị dữ lắm nghen! Chị ăn bánh bông lan hả? Thôi chị lấy ăn đi, em hổng lấy tiền đâu!”. Lệ Thủy từ chối mãi không được đành lấy vài cái, rồi nói: “Thôi, nhiêu đây là tình cảm rồi. Còn lại là tôi mua, em không lấy tiền là tôi không trở lại nữa à!”. Cô bán bánh đành chịu. Và mấy lần nữa, Lệ Thủy cứ mua bánh bông lan là được khán giả yêu mến trao tặng, đúng như cái hồn của bài vọng cổ mà bà đã hát gần nửa thế kỷ.


Ký ức thời bao cấp - Kỳ 7: Nhà văn, nhà báo, nhà giáo, nhà nghèo

Thời bao cấp nghề gì bắt đầu bằng chữ nhà đều khổ nên dân gian có câu “Nhà văn, nhà báo, nhà giáo, nhà nghèo”.

Ký ức thời bao cấp - Kỳ 7: Nhà văn, nhà báo, nhà giáo, nhà nghèo - ảnh 1Một cửa hàng bán lương thực tại Hà Nội thời bao cấp - Ảnh: Tư liệu
Phùng Quán mừng cưới bằng phiếu thịt
Năm 1985, đám sinh viên chúng tôi thường hay tụ tập tại quán nước chè bà Mai (vợ của Giáo sư Hoàng Như Mai) ở góc phố Quang Trung ­- Nguyễn Du vì bà Mai biết rất nhiều chuyện trong giới văn nghệ. Bà nói chuyện hóm hỉnh, lịch lãm và hay cho chúng tôi chịu. Cứ dăm ba hôm tôi lại thấy một người đàn ông tuổi tứ tuần nói nhỏ nhẹ đưa cho bà mấy gói kẹo lạc rồi cầm tiền lặng lẽ đi. Đó là thầy giáo dạy nhạc ở một trường cấp 2 tên Duy Hải, ông cũng có nhiều sáng tác dành cho lứa tuổi thiếu nhi.
Thi thoảng, tôi cũng gặp kịch sĩ Phan Tại đạp chiếc xe Solex lặng lẽ ngồi uống rượu suông trò chuyện với bà Mai. Toàn chuyện buồn. Chính tại quán này, tôi may mắn quen nhà văn Phùng Quán. Có hôm ông ngồi uống rượu lạc rang với chúng tôi từ chiều cho đến khi bà Mai dọn quán mà chuyện còn rất mặn. Ông nói chuyện quá duyên, đọc thơ như hát và hát cũng rất hay.
Phùng Quán là nhà văn, nhà thơ có tài, tác phẩm đầu tay Vượt Côn Đảo của ông được Hội Nhà văn VN trao giải thưởng năm 1955. Về quá trình viết tác phẩm này, trong di cảo hồi ký Tôi đã trở thành nhà văn như thế nào (Nhà xuất bản Văn nghệ TP.HCM xuất bản năm 2007), ông kể nhiều chi tiết rất thú vị về sự ngẫu nhiên và tình cờ đưa ông từ một người lính trở thành một nhà văn và những oan khuất phải gánh chịu nhưng với giọng kể rất hóm hỉnh, không một chút trách móc hay thù hận. Năm 1988, cuốn tiểu thuyết Tuổi thơ dữ dội của ông được xuất bản và nhận giải thưởng Văn học thiếu nhi của Hội Nhà văn VN hai năm sau đó. Ngoài văn xuôi, Phùng Quán còn sáng tác thơ và có nhiều bài thơ nổi tiếng như: Hoa sen, Hôn, Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe... Năm 2007, Phùng Quán được nhà nước truy tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.
Sinh thời nhà văn Phùng Quán là bạn bè thân thiết với dịch giả, nhà phê bình phim Cao Nhị. Thời bao cấp thiếu thốn, Phùng Quán thường đến nhà Cao Nhị ở phố Trần Quốc Toản chơi và uống rượu. Tất nhiên là uống suông vì nhà Cao Nhị đông con, hai vợ chồng chỉ trông vào đồng lương. Có lẽ vì thế mà hàng chục năm nhà ông Cao Nhị không có bếp, đun nấu ở ngoài sân. Gió to thì che tấm tôn, nắng thì đội nón còn mưa thì bê bếp mùn cưa chạy vào nhà. Rồi một hôm bà Cao Nhị cậy cục ai mua được cuộn giấy dầu và cây tre. Người đứng ra làm bếp cho nhà bạn là Phùng Quán. Ông tự đục mộng, chẻ lạt cho đến lợp mái. Đến trưa thì làm lễ cất nóc, ông ngồi trên mái, gió thổi tóc bồng bềnh trông như tráng sĩ đi trận về chờ vợ. Tất nhiên là cất nóc xong hai người ngồi uống rượu.
Rồi một ngày cô con gái lớn của ông bà Cao Nhị là diễn viên múa Thu Hiền cưới chồng, chú rể là nhạc sĩ trẻ Trương Ngọc Ninh. Đám cưới bao cấp chẳng có gì nhưng cũng phải có một hai mâm mời họ hàng. Bạn bè văn nghệ xúm vào mỗi người giúp một việc. Nhạc sĩ Văn Cao nhận vẽ thiệp mời, và tự tay ông vẽ mấy chục tấm thiệp. Phùng Quán thì chạy việc vặt. Trước đám cưới 2 ngày, ông trân trọng đưa phong bì mừng con bạn. Bà Cao Nhị mở ra thì quà là một ô phiếu thịt 3 lạng. Hai ông bà dứt khoát không nhận vì biết rõ Phùng Quán khi đó rất khó khăn, làm thơ thì phải ký tên khác, phải câu cá “trộm” ở Hồ Tây và rượu thì uống chịu. Nhưng Phùng Quán không nghe bắt phải nhận.
Ký ức thời bao cấp - Kỳ 7: Nhà văn, nhà báo, nhà giáo, nhà nghèo - ảnh 2Tem phiếu mua đường năm 1979 - Ảnh: MANHHAI.FLICK.COM
Nhà báo đi buôn
Bạn tôi, một nhà báo, nguyên là tổng biên tập một tờ báo về kinh tế, khi đó làm phóng viên Ban Thiếu nhi Đài Tiếng nói VN, lương bổng hai vợ chồng không đủ cho sinh hoạt nên cực chẳng đã, anh con trai phố cổ Hà Nội đành kiêm thêm nghề đi mua hàng của những người công tác,
lao động ở Đông Âu gửi về. Nhờ có người quen làm hải quan nên ông biết ai mới nhận hàng, và theo địa chỉ bạn bè cung cấp ông đánh liều đến hỏi may ra mua được. Cái gì cũng mua, từ len, vải, dây may xo, nồi áp suất.
Một lần ông vào một nhà mới nhận hàng ở phố Lê Thánh Tôn, thật bất ngờ lại chính là nhà của nhà báo kỳ cựu, khi đó ông này vừa đi công tác nước ngoài về. Bạn tôi “khai thật” với ông mình cũng là nhà báo và hai nhà báo dù hai thế hệ nhưng nói chuyện nghề chuyện báo rất rôm rả. Sau “giao lưu” ắt phải vào việc chính và mọi việc diễn ra suôn sẻ vì ông nhà báo kỳ cựu là người rất hiểu thời cuộc.

Ký ức thời bao cấp - Kỳ 6: Nghệ sĩ, cát sê và fan

Các chương trình nghệ thuật ngoài trời vào các tối thứ bảy, chủ nhật, ngày lễ, ngày tết ở Hà Nội mấy mươi năm trước luôn thu hút rất đông khán giả. Không chỉ người các tỉnh thành về Hà Nội chơi đi xem mà có cả người Hà Nội.

Một tiết mục biểu diễn của ca sĩ Ái Vân (phải) và Phương Thư hơn 30 năm trước - Ảnh: T.LMột tiết mục biểu diễn của ca sĩ Ái Vân (phải) và Phương Thư hơn 30 năm trước - Ảnh: T.L
Nói không với scandal
Lý do là thời đó không phải ai cũng có tiền mua vé vào rạp. Mặt khác truyền hình chưa phát triển, mỗi tối chỉ phát sóng một hai giờ và mua ti vi cũng mệt vì: “Muốn tan cửa nát nhà thì sắm ti vi/Muốn đi bệnh viện thì mua xe máy” hay: “Ti vi, tủ lạnh, Honda/Có 3 thứ ấy khám nhà như chơi”, nên mọi người nghe hát chủ yếu qua Đài truyền thanh Hà Nội hay Đài tiếng nói VN. Người yêu âm nhạc thuộc lòng bài hát, biết tên ca sĩ nhưng không có cơ hội biết mặt thần tượng của mình nên họ kéo nhau đi xem ca nhạc ngoài trời và tôi cũng là một trong số đó.
Các ca sĩ biểu diễn khi đó được đào tạo bài bản nên có thể hát được nhiều thể loại khác nhau nhưng bao giờ cũng thủ sẵn bài “tủ”. Tôi nhớ khi ca sĩ Vân Khánh chưa đi nước ngoài bao giờ cũng hát hai bài là Siboney (nhạc Cu Ba mà mọi người chế ra ra là “Bố Tây đen mẹ cũng Tây đen, đẻ con đen xì”) và bài Tình Bác sáng đời ta. Ca sĩ Quang Hưng có hai bài “tủ”: Tôi là Lê Anh Nuôi và Anh quân bưu vui tính, còn ca sĩ Trần Hiếu là Con voi. Thúy Hà thì thường hát bài Cánh chim báo tin vui và Đêm nay anh ở đâu, Bích Liên hát Đường tôi đi dài theo đất nước và Bài ca năm tấn. Thanh Hoa hát Đường tàu mùa xuân.
Ngọc Tân thì hát Chiều trên bến cảng…
Nếu tính số các ca sĩ hay hát show tại các tụ điểm thì rất nhiều. Ca sĩ nam gồm: Tiến Thành, Hữu Nội, Mạnh Hà, Trọng Nghĩa, Trần Khánh…, nữ là Thúy Lan, Thúy Đạt, Bích Thảo, Vũ Dậu… Ngoài ra còn các ca sĩ trưởng thành từ phong trào âm nhạc quần chúng như: Ngọc Bé, Huy Túc, Quốc Đông, Văn Sáu... Tôi nhớ khi Ngọc Bé hát bài Em là thợ quét vôi, ca sĩ lấy hai tay đưa lên đưa xuống trong không khí cho ra dáng chị quét vôi trông ngộ nghĩnh. Chen giữa các tiết mục bao giờ cũng có tấu hài và nghệ sĩ Hồng Kỳ diễn rất duyên. Thời đó điều kiện kỹ thuật không cho phép nên ca sĩ không thể hát nhép, vì vậy phải có dàn nhạc, tôi không biết nhiều nhưng thổi kèn trumpet có ông Trường nhà đầu phố Bà Triệu, chơi đàn accordeon có Tuấn “mũi”.
Nhiều chuyện vui trong những show này, ví dụ bài hát đã đóng đinh với một ca sĩ nào đó mà khán giả đã quen thuộc trên Đài tiếng nói VN nhưng biểu diễn trên sân khấu lại không phải ca sĩ đó thì khán giả hoặc ê ê kéo dài hay đồng thanh hô: “Một, hai, ba xuống đi!”. Hình thức biểu diễn cũng đa dạng gồm: đơn ca, song ca, tam ca và tốp ca. Tôi nhớ bài Con kênh ta đào do ca sĩ Ngọc Tân và Thanh Hoa song ca. Lắm hôm các ca sĩ hát tốp ca làm điệu, dựa vai vào nhau đu đưa theo giai điệu về bên phải rồi lại về bên trái trông ngây ngô nhưng đáng yêu.
Sau năm 1975, các mốt thời trang từ Sài Gòn ùa ra Hà Nội, tuy vậy các ca sĩ nữ khi hát show vẫn áo dài may theo kiểu Hà Nội và Thúy Hà bao giờ cũng gây ấn tượng bằng cách chỉ mặc áo màu đỏ, đi guốc cao gót bằng nhựa. Chỉ có một vài ca sĩ may áo dài kiểu Sài Gòn. Sang thập niên 1980, một số ca sĩ mặc váy lên sân khấu nhưng không nhiều. Với ca sĩ nam, trang phục biểu diễn mùa hè là áo sơ mi bỏ trong quần, mùa đông mặc complet. Sau năm 1975, xuất hiện ca sĩ mặc quần ống loe, đi giày đế cao nhưng khi có “chiến dịch” rạch quần ống loe thì bỏ luôn.
Các ca sĩ thời bao cấp có rất nhiều fan nhưng họ không xin chữ ký và tôi chứng kiến một fan đang xếp hàng mua thực phẩm ở phố Đại La thấy ca sĩ xếp hàng ở tít phía dưới đã nhường chỗ của mình cho ca sĩ đó. Lại có khi cũng rất hài hước, họ đang uống bia ở quán nào đó thấy ca sĩ đi qua liền đồng thanh hô to tên ca sĩ. Họ mến mộ vì giọng hát và đôi khi cũng vì sắc, ví dụ như ca sĩ Ái Vân được các chàng trai hâm mộ mua ảnh bán ở các cửa hàng văn hóa phẩm nhét vào trong ví. Ca sĩ thời đó không có gì để tạo scandal.
Thù lao tương đương bát phở
Cát sê thời bao cấp chia làm hai loại, nếu theo nhiệm vụ của đoàn thì biểu diễn xong nghệ sĩ chỉ được bồi dưỡng bát phở, bát mì hay số tiền tương đương với bát phở vì họ đã có lương. Còn đi show thì ông bầu không bao giờ công bố cát sê bao nhiêu và ca sĩ cũng không bao giờ hỏi, nói chung quan niệm khi đó được xuất hiện trước công chúng là hạnh phúc. Nói vậy nhưng lúc mở phong bì cũng hồi hộp, tuy nhiên sự chênh lệch giữa các nghệ sĩ không quá lớn.
Đầu thập niên 1980, cát sê của người giới thiệu chương trình là 10 đồng, còn ca sĩ thì tùy theo nhưng cao nhất cũng không vượt quá 20 đồng, so với giá vàng khi đó thì mua được 1/7 chỉ.
Ca sĩ có cát sê nhưng nhạc sĩ không có tiền bản quyền vì hầu hết họ ăn lương nhà nước và cũng không có luật bản quyền nên được ca sĩ hát ca khúc của mình là lâng lâng rồi.


Ký ức thời bao cấp - Kỳ 5: Showbiz thời bao cấp

Những hoạt động nghệ thuật thời bao cấp phục vụ công chúng đều do các đoàn nghệ thuật nhà nước đảm nhiệm.
Diễn viên trang điểm trước giờ diễn hơn 40 năm trước - Ảnh: David Alan HarveyDiễn viên trang điểm trước giờ diễn hơn 40 năm trước - Ảnh: David Alan Harvey
Chỉ khác từ ngữ biểu đạt
Thời đó nghệ sĩ được gọi là “chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng”, thông qua tác phẩm có thể là ca, múa sân khấu, điện ảnh tuyên truyền đường lối chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước. Vì là đoàn nghệ thuật của nhà nước nên họ được cấp kinh phí để dựng vở diễn, làm phim hay các chương trình ca nhạc.
Và tất nhiên ca sĩ, nhạc công, diễn viên đều trong biên chế của đoàn nghệ thuật nào đó, có thể thuộc bộ văn hóa hay sở văn hóa các tỉnh thành. Trên địa bàn Hà Nội có rất nhiều đoàn tá túc, nếu tính cả các đoàn nghệ thuật của Hà Nội thì tổng số trên dưới 20 đoàn. Ngoài ra, lực lượng vũ trang cũng có đơn vị nghệ thuật riêng. Thậm chí trong quân đội, cấp quân khu, quân chủng cũng tổ chức đoàn nghệ thuật riêng, vừa phục vụ bộ đội, vừa phục vụ nhân dân.
Ngoài lương, nghệ sĩ còn được phụ cấp thanh sắc mà trong giới gọi là tiền hao mòn thanh sắc, nếu biểu diễn theo kế hoạch họ còn được bồi dưỡng quy định. Tuy là đoàn nghệ thuật nhà nước nhưng hình thức hoạt động nói chung không khác mấy so với hoạt động showbiz hiện nay. Trưởng đoàn lo tổ chức, kết cấu chương trình cũng gồm diễn viên nổi tiếng để thu hút khán giả rồi liên hệ địa điểm, bán vé, nếu diễn ở các vùng quê thì ngoài dán áp phích họ còn cho thông báo trên loa… Hoạt động như showbiz bộc lộ rất rõ trong thập niên 1980 khi Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh có cuộc gặp gỡ văn nghệ sĩ tại Hà Nội mà người ta hay nói là “cởi trói” cho văn nghệ sĩ. Và dù là tuyên truyền nhưng lại phải bán vé nên ngoài các bài hát trong “phần cứng” thì các đoàn vẫn phải tìm các tác phẩm mới, lạ, các nghệ sĩ tên tuổi để tăng sức hấp dẫn thu hút khán giả. Càng nhiều khán giả thì tuyên truyền sẽ hiệu quả và doanh thu của đoàn nhờ đó cũng cao hơn.
Dù số đoàn nghệ thuật khá nhiều nhưng cũng không thể đáp ứng hết nhu cầu thưởng thức của quần chúng, nhất là các đối tượng không đủ điều kiện mua vé vào rạp nên đã sinh ra các chương trình nghệ thuật ngoài trời. Đó cũng chính là nhiệm vụ chính trị của các đoàn. Ở Hà Nội vào các tối thứ bảy, chủ nhật, ngày lễ, ngày tết bao giờ cũng có các chương trình biểu diễn trước cửa Ngân hàng Nhà nước (phố Lý Thái Tổ), trong công viên Thống Nhất, vườn Bách Thảo, Nhà văn hóa Thanh niên, hồ Thiền Quang… và biểu diễn tại đây do ngành văn hóa tổ chức nhưng thông qua ông bầu tư nhân với sự tham gia của các nghệ sĩ thuộc các đoàn nghệ thuật khác nhau. Tại sao nghệ sĩ trong biên chế lại có thể tự do biểu diễn ở các show? Đơn giản vì họ đã làm xong công việc của đoàn và việc họ hát ở ngoài cũng vẫn là “chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng”, vẫn là tuyên truyền nên các vị trưởng đoàn không ý kiến gì.
Bầu sô “quốc doanh” cạnh tranh bầu sô tư nhân
Thời bao cấp cuộc sống vật chất khó khăn, thiếu thốn nhưng bù lại đời sống tinh thần lại vô cùng phong phú. Một năm, cán bộ công nhân viên trong các cơ quan, xí nghiệp, nhà máy ít nhất phải được xem biểu diễn nghệ thuật 2 lần. Cán bộ công đoàn được mua vé xem phim, xem kịch hay ca nhạc, có nhà máy công nhân làm ca kíp không mua vé ngoài rạp đã mời các đoàn nghệ thuật đến biểu diễn tại nhà máy. Rồi các cơ quan, nhà máy tổng kết quý hay tổng kết năm cũng thường có ca nhạc nên sinh ra chạy đua giữa các ông bầu “quốc doanh” (trưởng đoàn nghệ thuật) với các ông bầu tư nhân. Nếu ông bầu “quốc doanh” thường dùng “mỹ nhân kế” dẫn theo diễn viên xinh tươi hay nổi tiếng để dễ ký hợp đồng thì các ông bầu tư nhân lại có vũ khí khác là “lại quả”, nghĩa là họ cắt phần trăm cho người có trách nhiệm của cơ quan đó. Lại có ông bầu tư nhân láu cá “xin” giấy giới thiệu của vị trưởng ngành nào đó và khi cầm tấm giấy thông hành trong tay họ tuyển quân đi diễn hết các đơn vị trực thuộc. Thập niên 1980, một nhạc sĩ làm bầu sô rất giỏi quan hệ kiểu đó và giàu lên nhanh chóng.
Còn biểu diễn tại sân khấu ngoài trời cũng có vài ông bầu, và một trong số đó là nghệ sĩ accordeon Kiều Linh của Đài tiếng nói VN. Tất nhiên ông Kiều Linh chỉ mời các nghệ sĩ của dàn nhạc nhà đài. Nói chung các ông bầu thiết kế show chủ yếu là hát và tấu hài. Trong các show cũng có người giới thiệu tiết mục, họ nói ngắn gọn và sử dụng từ ngữ mang tính tượng hình, tượng trưng, đôi khi ví von rất hóm hỉnh và không bao giờ dùng từ nghệ sĩ mà chỉ dùng từ ca sĩ hay diễn viên vì từ nghệ sĩ thời đó chỉ dùng để gọi những người đã thành danh và có uy tín trong nghề.
Năm 1980, nghệ sĩ múa Thu Hiền đã chuyển về làm việc ở Đài truyền hình VN và thường xuyên giới thiệu chương trình cho ông bầu Kiều Linh. Khi đó cậu con trai Anh Quân và cô con gái Hương Ly còn nhỏ nên nhạc sĩ Trương Ngọc Ninh chất cả nhà lên chiếc xe Mobylette. Chờ khi Thu Hiền nhận cát sê xong cả nhà lại lên xe máy èn èn về phố Vọng.


 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons