Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ.Trước năm 1975, trong khi ở miền Bắc hay các vùng nông thôn khắp cả nước, người dân vẫn ăn vận kiểu truyền thống, không có nhiều biến động trong phong cách thời trang thì Sài Gòn lại vô cùng đa dạng các loại mốt theo phong trào Tây hóa.Các kiểu đồ như váy bút chì, xẻ tà, chân váy midi... đã được cập nhật. Trang phục hiện đại cùng các phụ kiện và mốt tóc ngắn, xoăn giúp tôn đẳng cấp, nét kiêu sa cho các người đẹp ở "hòn ngọc viễn đông".Có thể thấy, các thiết kế của họ đến ngày này vẫn còn giá trị thẩm mỹ nhờ áp dụng màu đơn sắc, họa tiết nhã nhặn, thanh lịch.Nếu như ở các nơi khác, nhất là nông thôn lúc này, phụ nữ thoa chút son cho tươi tắn cũng bị đánh giá là đua đòi ăn chơi, mặc quần loe là lai căng, không đứng đắn, thì người Sài Gòn vẫn vô tư diện jeans loe thời thượng.Họ rất để ý trong cách phối đồ nên không bị lạc hậu, phương pháp tone-sur-tone đã được áp dụng.Thiếu nữ Sài thành duyên dáng trong tà áo dài nhưng đeo kính sành điệu, kết hợp băng đô xinh xắn.Một kiểu mũ được ưa chuộng, làm tăng vẻ cá tính cho các "hot girl" thời xưa.Hình ảnh phụ nữ thanh lịch ngồi trên những chiếc Vespa, Cub hay xe đạp tạo cho "Paris phương Đông" nét đẹp ấn tượng. Ảnh: Life.Váy suông nhiều kiểu, từ tay ngắn đến ba lỗ, cổ đứng, cổ tròn... được các quý cô yêu thích. Giày đế thấp khá đơn giản, dễ ứng dụng.Vợ của trùm du đãng khét tiếng Sài Gòn thập niên 60 Đại Cathay sánh bước bên chồng, diện bộ đồ hồng phấn gồm váy ôm và áo lửng, đeo kính đen kiêu kỳ.
This is featured post 1 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 2 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 3 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
Thứ Sáu, 24 tháng 7, 2015
Sài Gòn - Gia Định một thời để nhớ: Dinh Xã Tây
Hơn nửa thế kỷ sống ở Sài Gòn và gần 40 năm gắn bó với nghề báo, nhà văn Lý Nhân Phan Thứ Lang đã tiếp xúc với những nhân vật nổi danh cùng kho tư liệu quý giá về miền Nam, nhất là địa danh của vùng đất Sài Gòn - Gia Định xưa.Thanh Niên xin giới thiệu loạt bài về đất Sài Gòn - Gia Định xưa.
Ngay khi người Pháp tới Sài Gòn, họ đã đặt nền hành chính theo tổ chức một nước thuộc địa: tỉnh, quận, xã. Sài Gòn lúc đó có Hội đồng thị xã để điều hành cả vùng Sài Gòn - Gia Định - Chợ Lớn.
Người Pháp thuê ngôi nhà của một người tên là Đoàn Tại ở đường Rue aux Fleurs nằm ở khoảng giữa Nguyễn Huệ - Hàm Nghi (bây giờ là trụ sở Hải quan) vừa làm Hội đồng thị xã, vừa là cơ quan hành chính, có phòng Thương mãi, phòng Chứng khoán để cấp môn bài, chứng nhận giấy tờ mua bán bất động sản, làm sở hữu chủ đất ruộng cho người Việt và các kiều dân Pháp, Hoa, Chà... Số Pháp kiều ở thành phố chỉ có vài chục người và thêm vài trăm người Hoa, Chà, nhưng về sau đã gia tăng. Nhiều người Việt vì muốn được dễ dàng buôn bán, đi làm hoặc cho con cái du học nên nhập quốc tịch Pháp ngày một đông, vì vậy người Pháp quyết định chọn khu kinh Lấp (con kinh được lấp lại) nằm theo đại lộ Charner (đường Nguyễn Huệ bây giờ) xây Tòa thị sảnh của thủ phủ Nam Kỳ.
Hơn 40 năm thiết kế và thi công
Các kiến trúc sư ở Pháp được mời sang dự thi và hàng chục người đưa ra họa đồ đủ kiểu mới lạ. Kết quả, họa đồ của kiến trúc sư Codry trúng giải. Một năm sau đó, họa đồ trên vẫn chưa được kiến trúc sư Codry thực hiện, nên nhà cầm quyền Pháp đã phải mời một kiến trúc sư Pháp khác vẽ lại. Mãi tới năm 1870, khi Blancsubé sang nhậm chức Thị trưởng Sài Gòn, ông ta định đem đồ án trên ra thực hiện, nhưng gặp trở ngại là Hội đồng thị xã bàn ra tán vào, nên công việc lại nằm yên một chỗ.
Năm 1893, vấn đề xây cất Tòa thị sảnh lại được Hội đồng thị xã đem ra bàn. Đến năm 1898, Hội đồng thị xã mới đồng ý chấp thuận xây tại địa điểm cũ nhưng bắt vẽ lại họa đồ khác cho hợp với các công trình ở thành phố đã được thực hiện mới lạ và đồ sộ. Việc khởi công tòa nhà vào năm 1899, do kiến trúc sư Gardès vẽ đồ họa mới. Còn phần trang trí và thiết kế hoa văn phù điêu trong ngoài Tòa thị sảnh được giao cho họa sĩ Ruffier thực hiện. Công việc đang tiến hành tốt đẹp thì có sự bất đồng ý kiến giữa họa sĩ Ruffier với các nghị viên Hội đồng thị xã về việc thay đổi vài chi tiết phần thiết kế nội sảnh.
Họa sĩ Ruffier muốn sửa đổi một vài chi tiết nội thất, ông phải về Pháp nghiên cứu lại, nên cần một số tiền mới có thể làm được. Hội đồng thị xã cũng chấp thuận. Việc trang trí tiền sảnh, nội sảnh bắt đầu vào ngày 21.3.1903 đến năm 1906, họa sĩ Ruffier mới làm được hai phần ba tổng số công việc, nên thị trưởng mới là ông Cuniac lo lắng, hối thúc họa sĩ Ruffier mau chóng hoàn tất công việc. Đến đây lại gặp trở ngại. Hội đồng thị xã nhận ra rằng vì kiểu cách thay đổi mà mặt tiền của tòa nhà trông có vẻ kỳ dị quá nên đưa ra đề nghị là phải phá bỏ cái lầu cao chênh vênh đằng trước (lầu đồng hồ như gác chuông). Viên thị trưởng muốn công việc sớm hoàn tất, nên đã cho chụp ảnh lầu chuông tiền sảnh gửi về bên Pháp để họa sĩ Ruffier xem rồi tìm một kiến trúc khác thiết kế lại, thay cái lầu chuông đồng hồ không đẹp ấy. Đến đây, thấy việc xây cất tốn kém và lại chậm trễ, nên viên Thống đốc Rodier đã từ chối cấp thêm kinh phí. Năm 1907 vẫn chưa xong công trình, nên hợp đồng của họa sĩ Ruffier bị bãi bỏ và họa sĩ Bonnet đứng ra thay thế, đảm nhận hoàn tất trang trí những phần còn lại. Còn họa sĩ Ruffier bị Hội đồng thị xã đem ra Tham chính viện kiện vì không thực hiện đúng hợp đồng, do kéo dài đến năm 1914. Kết quả tòa đã bác đơn của họa sĩ Ruffier và xử ông phải trả hai phần ba án phí, cộng thêm khoản bồi thường thiệt hại cho Hội đồng thị xã nhưng Ruffier vắng mặt vì... không có tiền nên kết quả huề cả làng và cũng chẳng biết sau đó họa sĩ Ruffier lưu lạc nơi đâu.
Kiến trúc cổ nổi tiếng
Ngày Tòa thị sảnh được khánh thành, người ta đọc thấy hàng chữ ở mặt tiền sảnh như sau: Hôtel de Ville nhưng người dân Việt lại gọi đơn giản: Xã Tây. Theo tự điển Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ là “Tòa đô sảnh một thành phố đời Pháp: Xã Tây Sài Gòn”. Xã Tây theo nghĩa dân gian là làng của Tây, do các viên chức Pháp làm việc, công việc của Xã Tây do một viên thị trưởng người Pháp điều hành, và bên cạnh có một Hội đồng thị xã đều do nhà cầm quyền Pháp chỉ định.
Xã Tây trên giấy tờ gọi là Tòa thị sảnh. Đến thời Bảo Đại thì được đổi lại là Tòa đô sảnh và do các đốc phủ sứ được bổ nhiệm làm thị trưởng. Chế độ Ngô Đình Diệm thay thế Bảo Đại, dinh Xã Tây do những đốc phủ sứ làm đô trưởng (1954 - 1963). Khi chế độ quân nhân lên thay Ngô Đình Diệm, các tướng tá lần lượt thay nhau làm đô trưởng Sài Gòn - Chợ Lớn. Người đô trưởng cuối cùng, trước ngày 30.4.1975 là đại tá Đỗ Kiến Nhiễu.
Sau giải phóng, dinh Xã Tây trở thành trụ sở làm việc của UBND TP.HCM, là một di tích kiến trúc cổ nổi tiếng thu hút khách trong và ngoài nước đến chiêm ngưỡng.
Thứ Ba, 21 tháng 7, 2015
Hà Nội đã "Tây hóa" như thế nào?
Hình ảnh Hà Nội xưa
Đầu năm 1885, phố Hàng Khảm ở Hà Nội đã trở thành một phố được trải đá dăm khá tốt, rộng từ 16 mét đến 18 mét, các cửa hàng hầu như của người châu Âu. Người ta thấy ở phố Hàng Khảm một xưởng sản xuất nước có ga, một hiệu bánh mì, một số cửa hàng đồ khô, một cửa hàng văn phòng phẩm, một số cửa hàng kim khí, một hoặc vài cái chợ, một khách sạn, hai ba hiệu cà phê. Tất cả đều của người Pháp...
Ngoài mặt hàng chính, các cửa hàng đều nghĩ cách đưa các loại hàng rất khác nhau vào bán. Vì thế các cửa hàng văn phòng phẩm không chỉ quảng cáo “các tiểu thuyết mới sang theo các chuyến thư” mà còn quảng cáo cho các “ngăn tơ lụa, đồ hộp, bát đĩa, đồ thủy tinh, đồ dùng của phụ nữ”. Mặc dù có những cố gắng đó, vào năm 1885, Hà Nội vẫn còn thiếu nhiều thứ và người ta có thể thấy trên tờ Tương lai Bắc Kỳ số ngày 5/8/1885 một thông báo khá bình thường nhưng đặc sắc về vấn đề này: Dân chúng Pháp tại Hà Nội yêu cầu:
Từ tháng 7/1885, Hà Nội đã có một phòng sửa tóc và trang điểm theo kiểu Paris (salon parisien) nhưng hiệu thuốc thì mãi từ tháng 6/1888 mới khai trương, ở phố Hàng Khảm.
Theo lẽ tự nhiên, nghiệp đoàn thương nhân đầu tiên ở Hà Nội có nhiều người tham dự là nghiệp đoàn các chủ hiệu cà phê. Từ năm 1884 tới năm 1885, số hiệu cà phê tăng lên rất nhiều, chỉ riêng phố Hàng Khảm có các hiệu Cafe du Commerce đối diện Tràng Tiền, “nơi tụ hội của các quý ông thương gia”; Cafe de Paris gần khu Nhượng địa; Cafe Albin; Cafe de la Place; Cafe Block... Nhưng sớm nhất và nổi tiếng nhất là Cafe de Beira, “nơi hội tụ của quý ngài sĩ quan”.
Paul Bourde, thông tín viên tờ Thời báo (le Temps) nhận xét: “Hiệu cà phê của bà Beira là một thiết chế của Hà Nội”. Trong các mô tả về các buổi trà lá tại hiệu cà phê này, có phác tả: “Bà Beira, một người có tuổi tốt bụng, choàng khăn, bán căng tin trong quân đội về hưu, nhưng mắt vẫn còn tinh và nói năng trôi chảy, cho tăng gấp đôi số bàn ghế trên sân thượng và dưới hiên vì có nhiều người tới uống rượu ngải: Hà Nội đang sống vội vã...”.
Trong những ngày đầu, nếu các hiệu cà phê mở dễ dàng thì việc mở khách sạn vất vả hơn. Những khách đầu tiên tại khách sạn duy nhất tại Hà Nội năm 1884 để lại một bức tranh không mấy quyến rũ: “Những ngôi nhà bằng sắt móng ngựa vây quanh những chiếc sân trông ra đầm, những vách ngăn bằng tre trát toocxi qua loa, mái rạ. Giữa mái và các vách có một khoảng trống năm mươi centimet để thông gió nhưng các du khách đến Hà Nội vào tháng Hai với nhiệt độ tám độ vào ban đêm thấy ngay rằng người ta nghĩ tới mùa hè quá sớm! Nếu muốn phòng ấm áp, bạn phải đóng các cửa sổ con còn nếu muốn sáng, phải mở hết chúng, thành ra không thể đồng thời làm cho căn phòng vừa sáng vừa ấm áp”.
Khách sạn đầu tiên bằng gạch cho người châu Âu khai trương vào tháng 11/1885 ở phố Hàng Thêu (nay là Hàng Trống), cạnh tòa báo Tương lai Bắc Kỳ. Khách sạn này có tên là Đại Khách sạn (Grand Hôtel), nó “có một phòng ăn 50 người, phòng bi-a được nhập đầu tiên vào Hà Nội, tất cả được lắp kính và ban đêm sáng choang”. Cuối cùng, cực kỳ tinh tế, “một phòng liệu pháp nước, ở đó vào ban ngày, khách hàng có thể tắm bằng vòi hương sen bất cứ lúc nào”. Chen giữa phố Hàng Thêu và hồ, chỗ ngày nay là vườn hoa, Đại Khách sạn bố trí “một cái chòi quê rất đẹp”. Trên hồ: hai chiếc ca nô duyên dáng cho phép khách quen dạo chơi hoặc luyện tập sức khỏe”.
Trong khu phố mới, con đường đầu tiên được qui hoạch là đường phố Hàng Khảm. Sau đó tới lượt phố Hàng Thêu và Hàng Bài, tức đại lộ Đồng Khánh (nay là Hàng Bài), đồng thời với các phố ở khu buôn bán. Chẳng bao lâu, đường Hàng Khay có thể đi bộ và đi ngựa riêng biệt. Khi các đường phố có thể cho xe đi lại được, đầu năm 1884 trú sứ Bonnal cho nhập từ Nhật hai chiếc xe djinn rickshaws, trong đó một chiếc dành cho tổng đốc để sao chép lại. Những chiếc xe đầu tiên kiểu này làm dân chúng kinh ngạc.
Sự ngạc nhiên còn lớn hơn khi xuất hiện xe khách công cộng (tramway) vào năm 1885. Đó chỉ là một chiếc xe nhỏ do ngựa kéo chạy qua các phố Hàng Khay và phố Hội Truyền giáo (nay là phố Nhà Chung). Phố Hội Truyền giáo hẹp đến nỗi quyết định của cảnh sát ngày 28/7/1885 yêu cầu những người đi xe ngựa và xe cộ tránh đi cùng giờ với giờ xe khách chạy, một lệnh có trước qui định đường một chiều 40 năm! Lường trước mọi chuyện, lệnh trên cũng cấm người lái xe khách cho ngựa phi nước đại và buộc phải bóp còi nhiều lần ở các giao lộ đông người qua lại.
Cho tới năm 1886, Hà Nội chỉ có hai chiếc xe bốn bánh, một chiếc bằng gỗ kiểu Colombo (kiểu xe Ấn Độ) của Hội Truyền giáo để Giám mục Hà Nội dùng đi lại. Chiếc thứ hai kiểu Victoria của viên chỉ huy Henri Riviere. Sau này chiếc Victoria được bán đấu giá cho ông Coutel, nhà thầu khoán đầu tiên ở Hà Nội...
Hai giai đoạn quan trọng nhất trong quá trình phát triển khu phố Pháp là sự khai quang khu vực Hồ Gươm và việc xây dựng trên bờ đông của nó các tòa nhà hành chính đầu tiên chuyển từ khu nhượng địa ra...
Đồng thời với việc trở thành trung tâm hành chính và thương mại, khu phố mới còn phát triển về phía bắc bằng cách san lấp một số đầm kẹp giữa Hồ Gươm và sông Hồng để xây dựng nhà cho công chức thuê, về phía nam bằng cách xây dựng đại lộ Gambetta (nay là Trần Hưng Đạo)... Theo nghị định của công sứ Hà Nội ngày 26/12/1886: trong thời hạn một năm các nhà lá trên phố Paul Bert (Tràng Tiền ngày nay), phố Hàng Thêu phải phá hủy và thay bằng nhà gạch lợp ngói.
Thời ấy mọi sự cầu kỳ về quần áo bị loại bỏ thẳng tay. Phụ nữ, tuy còn hiếm, cũng tự nhiên tới hiệu cà phê trong bộ áo choàng đi ngủ còn nam giới trong bộ lòa xòa như người Hồi giáo. Không nhiều nhưng các trò tiêu khiển hoàn toàn không thiếu. Thử nghiệm đầu tiên về sân khấu được thực hiện vào năm 1885 trong một lán gỗ nằm giữa hồ và xưởng phát điện. Nhóm kịch có hai diễn viên chuyên nghiệp và vợ chồng ông Deschamps. Các cuộc đi dạo cực kỳ hạn chế vì các toán cướp đi lại trong các khu liền ngay với thành phố nhưng đã được thay thế bằng bơi thuyền, một việc có thể thực hiện tốt ở Hồ Gươm cũng như Hồ Tây. Năm 1883 đua thuyền được khai trương trên Hồ Gươm bằng một chiếc thuyền độc mộc 10 người chèo. Các nhà báo Paris trọ bên bờ Hồ Gươm mỗi người có một chiếc thuyền, ngoài ra còn có hai chiếc ca nô dành cho khách của Đại Khách sạn ở phố Hàng Thêu...
Là thủ đô trí tuệ của Đông Dương trong tương lai, ngay từ buổi ban đầu, Hà Nội đã mở ra sự tôn thờ các giá trị tinh thần: nếu Viện Hàn lâm Bắc kỳ chưa đáp ứng được những gì Paul Bert mong đợi thì Ủy ban Nghiên cứu Nông Công Thương đã có những phiên họp khá lý thú vào năm 1886 và 1887. Tờ Tương lai Bắc kỳ do nhà báo Jules Cousin phụ trách đã cho đăng tải những bài nghiên cứu đặc sắc. Một trong những cơ sở dịch vụ có tổ chức là nhà in chính phủ và một trong những cửa hàng tại phố Hàng Khảm là hiệu sách. Đó là những dấu hiệu văn hóa. Từ năm 1886, L.Gillet mở một phòng đọc sách với giá hai đồng một tháng hoặc 20 xu mỗi cuốn. Năm 1888, nhà Schneider cho thuê một phần sách trong hiệu sách của mình với cùng biểu giá.
Từ một thành phố cổ, Hà Nội đã nhanh chóng cuốn vào nhịp điệu cuộc sống hiện đại...
Nhớ về đoàn hát Kim Chung Huỳnh Thái
Huỳnh Thái và Kim Chung (từ trái sang) trên sân khấu xưa
Nếu ở trong Nam có đệ nhứt danh ca Út Trà Ôn, thì ở ngoài Bắc cũng có đệ nhứt danh ca Huỳnh Thái được khán giả Hà Nội, Hải Phòng mến mộ nổi tiếng một thời. Năm 1954 Huỳnh Thái theo đoàn Kim Chung vào Nam.
Cộng tác khá lâu với đoàn này, Huỳnh Thái mỗi ngày có mặt trình diễn trên sân khấu rạp Aristo, và hằng tuần lên ca trên đài phát thanh Sài Gòn, kể từ đó làn hơi ca độc đáo của danh ca miền Bắc quen dần với khán thính giả trong Nam.
Nghệ sĩ HUỲNH THÁI Hòa nhập vào giọng ca miền Nam
Không phải đến năm 1954 Huỳnh Thái mới đi cùng đoàn Kim Chung theo dòng người di cư vô Nam, mà trước đó vào năm 1941 Huỳnh Thái đã từng đi đoàn Ái Liên vào hát ở Sài Gòn và một số tỉnh ở Nam Kỳ, đã mang làn hơi ca vọng cổ đất Bắc hòa nhập vào giọng ca miền Nam.
Người ta còn nhớ vào năm ấy 1941 ở Sài Gòn mở hội chợ ở Vườn Ông Thượng (Vườn Bờ Rô), mà về sau có tên là Công Viên Tao Đàn. Lúc ấy gánh Ái Liên đang có mặt ở Sài Gòn, đã vào hát trong hội chợ, và khai trương vở tuồng màu sắc đầu tiên của đoàn nầy là Huyền Trân Công Chúa, do soạn giả Bảy Muôn viết, dựa theo sử thời Nhà Trần. Cô đào trẻ đẹp Ái Liên đóng vai Công Chúa Huyền Trân và Huỳnh Thái vai Thượng Tướng Trần Khắc Chung. Huỳnh Thái vô vọng cổ khá mùi: Công nương ôi! Đôi phen đối bóng soi gương, thầm than cho duyên số bẻ... bàng. Khán giả trong Nam cũng vỗ tay vang rền, không thua gì lúc đệ nhứt danh ca Út Trà Ôn vô vọng cổ. Khán giả cải lương rất điệu, nghe vô vọng cổ thì cứ vỗ tay, hay dở tính sau.
Cùng thời với hàng nghệ sĩ tên tuổi miền Bắc như: Kim Chung, Bích Hợp, Ngọc Toàn, Quang Hữu, Phúc Lai... Huỳnh Thái đã trải qua lắm cuộc thăng trầm trong kiếp đời nghệ sĩ. Lúc còn hoạt động ở ngoài Bắc, Huỳnh Thái từng dựng lên một đoàn hát, hợp tác với đào thương Bích Hợp vào thời kỳ khói lửa bao trùm đất nước (chiến tranh 1945 – 1954). Rồi thời thế đẩy đưa đoàn hát tan rã, Huỳnh Thái gia nhập đoàn Kim Chung lúc đoàn này vô Nam.
Huỳnh Thái tên thật là Hoàng Đình Thái sinh năm 1920 tại Hà Nội, buổi đầu học hát đã được nhiều người chú ý, được mời lên sân khấu Nhà Hát Lớn diễn kịch giúp việc nghĩa. Đến năm 1935 thì chính thức bước vào nghề, cùng vợ lập gánh hát nhỏ lấy tên là Thái Châu Ban để luyện tập, và đến năm 1937 gia nhập đoàn Ứng Lập Ban thì bắt đầu nổi tiếng. Nhờ có làn hơi thiên phú và lối ca hấp dẫn thu hút người nghe, nên tiếng tăm người nghệ sĩ tuấn tú đã vang dậy một thời.
Khoảng cuối năm 1961 thiên hạ đi ngang rạp hát Aristo (rạp hát cải lương đầu tiên của Sài Gòn, mặt tiền nằm ở đường Phạm Ngũ Lão Q.1 ) đã nhìn thấy một cái móng rùa vĩ đại chiếm hết cả mặt tiền rạp hát, vòng lên tới nóc. Hỏi ra thì đây là thời kỳ ăn tập của đoàn Thăng Long – Huỳnh Thái sắp khai trương. Người ta thắc mắc phải chăng đoàn hát này định lấy móng rùa làm biểu hiệu, để nhắc nhở những gì linh thiêng của đất nước, của lịch sử dân tộc chăng?
Trong thời gian đoàn ăn tập, ban giám đốc đoàn Thăng Long – Huỳnh Thái lại nãy ra sáng kiến phát động quảng cáo rần rộ cho sân khấu mình, bằng cách tổ chức những đại nhạc hội quanh các rạp lớn Đô thành để giới thiệu thành phần đào kép, chủ trương, đường lối của sân khấu mới này.
Đoàn đã bắt đầu mở màn chiến dịch tại rạp Moderne ở Tân Định, sau đó đi qua các rạp khác nữa. Ban ngày tập tuồng, ban đêm đi làm đại nhạc hội, nhóm nghệ sĩ Thăng Long tỏ ra nỗ lực thiết thực để tranh thủ cho cái sống của anh em và quảng cáo mạnh cho bảng hiệu.
Với thành phần nghệ sĩ nửa Nam nửa Bắc, sách lược dung hòa nghệ sĩ Bắc Nam được Huỳnh Thái áp dụng cho chương trình của anh trước nhứt, rồi sau đó người ta thấy mới đến ông Bầu Long chủ nhân các đoàn Kim Chung.
Đoàn Thăng Long – Huỳnh Thái ra đời gây ít nhiều tiếng vang, nhưng “một con én không làm nổi mùa Xuân”, hay móng rùa vô Nam không còn linh thiêng, nên tên bảng hiệu Thăng Long – Huỳnh Thái mờ dần theo năm tháng, chỉ còn lại kỷ niệm trong làng ca kịch.
Đào thương Bích Hợp

Bích Hợp, đệ nhất đào thương miền Bắc và Huỳnh Thái trên sân khấu Kim Chung – 1950. Ảnh Huỳnh công Minh/diendan.cailuongso.com. Riêng đào thương Bích Hợp thì khán giả miền Bắc mệnh danh là người của 30 năm sân khấu, và là điển hình cho cái đẹp của Gánh Hàng Hoa, của Nửa Chừng Xuân, Hồn Bướm Mơ Tiên. Ngoài diễn viên trên sân khấu, Bích Hợp còn hát những bài ca tân nhạc: Con Thuyền Không Bến, Giọt Mưa Thu, Đan Áo Đợi Chàng... Tiếng ca như gió mơn mởn cành liễu, như sóng gợn mùa Thu làm say mê giới mộ điệu từ Bắc chí Nam.
Lúc Huỳnh Thái vô Nam thì Bích Hợp cũng cầm cự mang đoàn vô đến Sài Gòn thì rã gánh tại đây, và cô đầu quân dưới bảng hiệu Kim Chung. Khi ấy đoàn Kim Chung có đào tài giỏi mà lại không có kép đồng tài nghệ đóng cặp thì cũng chẳng làm ăn nên nỗi được. Là người có cái nhìn thực tế, biết rằng khán giả cải lương miền Nam rất đặt nặng ca vọng cổ, nên Bầu Long quyết định tìm một kép ca miền Nam có giọng ca hay về đóng cặp với đào Bích Hợp.
Lúc bấy giờ đài phát thanh Sài Gòn thỉnh thoảng lại cho phát thanh bài vọng cổ “Bến Vắng Chiều Thu” do Kim Nguyên ca vô dĩa hát. Giọng ca trầm ấm mùi rệu của Kim Nguyên được nhiều thính giả chú ý lắng nghe.
Bầu Long nghĩ rằng nếu bắt Kim Nguyên về đoàn hát đóng cặp với cô đào tài sắc Bích Hợp, thì như cái máy in tiền hằng đêm vậy. Nghĩ là thực hiện ngay liền, chớ không để lâu sợ bầu gánh khác phỏng tay trên. Ông cho người dọ hỏi thì biết rằng Kim Nguyên làm nghề thợ bạc, kèm theo bán nữ trang nho nhỏ gần chợ Cần Giuộc, Long An chỉ đủ sống đấp đổi chớ không khá giả gì.
Khi đã nắm vững tình trạng, Bầu Long cho người mang cặp tiền đi theo ông để khi gặp mặt Kim Nguyên thương lượng xong thì cho ký giao kèo liền, chớ không chần chờ làm giá cho bầu gánh khác. Trong lúc thương lượng, ông ra hiệu cho người đi theo bỏ cọc tiền 500 ngàn ra trên bàn rồi ra giá luôn...
Làm thợ bạc quanh năm chẳng dư giả, có bán được 1, 2 chỉ vàng cũng chẳng lời bao nhiêu. Giờ đây chỉ cần đặt bút ký thì có ngay nửa triệu bạc, dư sức mở tiệm vàng lớn, bởi thời đầu thập niên 1960 này, nửa triệu bạc mua trên 100 lượng vàng y. Thế là Kim Nguyên khó thể chối từ, và thu xếp việc nhà lên Sài Gòn tập tuồng Hoa Mộc Lan Tùng Chinh đóng cặp với đào Bích Hợp. Quả thật đúng như bầu Long dự đoán, giọng ca Kim Nguyên quen thuộc với thính giả đài phát thanh, thì dĩ nhiên sẽ là khán giả của Kim Chung.
Tuồng Hoa Mộc Lan Tùng Chinh hát cả tháng vẫn còn đông đảo khán giả, cặp đào kép Bắc Nam nầy được giới mộ điệu khen tặng hết lời. Không nói cũng biết chẳng bao lâu thì Bầu Long thu lại vốn mà còn lời khẳm. Người ta nói ông bầu Long có cái nhìn chiến lược của một nhà kinh doanh nghệ thuật, do đó mà đoàn hát Kim Chung mỗi ngày một phát triển. Vấn đề này về sau bầu Long có tiết lộ là lúc ấy nếu bỏ tiền ra ít hơn, 1, 2 trăm ngàn cũng có thể được việc, nhưng không chắc ăn lắm. Ông đi cái đòn áp đảo của kẻ có tiền, bỏ ra nửa triệu thì khó có bầu gánh nào dám tiền vay bạc hỏi, mượn nợ để chạy theo tranh giành với ông. Vả lại lúc ấy Kim Nguyên chưa phải nghệ sĩ tên tuổi như Út Trà Ôn, Hữu Phước thì chủ nợ đâu có bỏ tiền ra cho vay, cũng như đâu có bầu gánh nào dám làm liều.
Sau 1975 nghệ sĩ Kim Nguyên ra hải ngoại định cư tại San Jose, ông vẫn tham gia các sô hát với vai trò nhạc sĩ vĩ cầm, chớ không có ca, dù rằng làn hơi ca vẫn còn hay. Năm 2002 Hội Cổ Nhạc Miền Nam Việt Nam Hải Ngoại tổ chức thi cổ nhạc Giải Phụng Hoàng, mở rộng lên miền Bắc California, thiết lập địa điểm thi sơ khảo tại San Jose. Tôi với tư cách hội trưởng kiêm trưởng ban tổ chức, có mời nghệ sĩ Kim Nguyên tham gia ban giám khảo.
Tiếp xúc trò chuyện với ông, tôi có hỏi về đào thương Bích Hợp thì Kim Nguyên nói Bích Hợp mất trên 10 năm. Giờ đây hễ nhắc tới là kép ca kiêm nhạc sĩ vĩ cầm này không khỏi bùi ngùi, bởi có người nói lại với ông rằng trước khi lìa đời Bích Hợp có nhắc đến Kim Nguyên và sao không thấy đến thăm cô.
Về phần Huỳnh Thái thì do biến cố Tết Mậu Thân, cũng cùng chung số phận với bao nhiêu gánh hát khác, đoàn Thăng Long – Huỳnh Thái phải chịu rã gánh, và trong cái cảnh khốn đốn không còn hát xướng đó, ông lại bị bệnh phổi nặng và qua đời năm 1970 trong hoàn cảnh nghèo nàn cơ cực.
Lúc đưa Huỳnh Thái ra nghĩa trang, trong số thân hữu đưa đám có người lên tiếng:
- Đúng là Huỳnh Thái sinh Bắc tử Nam.
Dù là đám ma buồn thảm, mọi người cùng cười, người khác lại nói:
- Đất nước đang chia đôi, không lẽ Huỳnh Thái bay về Bắc để mà chết ngoài đó sao?
Thứ Tư, 15 tháng 7, 2015
Xúc động cuốn nhật ký chiến tranh hơn 40 năm lưu lạc trên đất Mỹ
Cuốn nhật ký chiến tranh của chiến sỹ Nguyễn Văn Nam được Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter trao trả cho Việt Nam trong chuyến thăm vào ngày 1/6 vừa qua.
Điều đặc biệt, viết về chiến tranh nhưng người chiến sỹ này không nhắc nhiều đến những cuộc chiến khốc liệt mà chủ đạo trong đó là những dòng tâm sự đầy ngọt ngào với người yêu. Một đặc điểm nữa đó là hình ảnh những bông sen hồng được vẽ lặp đi lặp lại nhiều lần trong cuốn nhật ký này. Nó như một phép ẩn dụ nhưng rất thật về đời sống tinh thần của người chiến sỹ cách mạng trên chiến trường Nam Bộ.
Cầm cuốn nhật ký của chiến sỹ Nguyễn Văn Nam, điều xúc động khiến tôi không cầm được nước mắt là những vết máu còn thấm đẫm trên từng trang giấy đã cũ. Có lẽ, thời điểm người lính Mỹ ở bên kia chiến tuyến nhặt được cuốn nhật ký này thì chủ nhân của nó đã hy sinh.
Sau hơn 40 năm lưu lạc trên đất Mỹ, cuốn nhật ký đã được bảo vệ một cách cẩn thận và được trao trả về Việt Nam. Người giữ cuốn nhật ký này hy vọng được trao tận tay cho những người thân của chiến sỹ Nguyễn Văn Nam nơi quê nhà.
Cuốn nhật ký đặc biệt
Hình ảnh cuốn nhật ký của liệt sỹ Nguyễn Văn Nam.
|
Đây là cuốn nhật ký được đích thân Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, ông Ashton Carter trao cho đồng cấp Việt Nam - Bộ trưởng bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh trong chuyến thăm Việt Nam vào đầu tháng Sáu vừa qua. Theo Bộ trưởng Carter, thông qua việc trao lại các kỷ vật chiến tranh, phía Mỹ mong muốn tiếp tục công việc hàn gắn những vết thương quá khứ.
Khi trao cuốn nhật ký này, ông Ashton Carter phát biểu: "Tương lai của chúng ta thật tươi sáng, nhưng khi cả hai nước cùng nhau hướng về phía trước, chúng ta không được phép quên đi quá khứ. Mỹ tiếp tục duy trì cam kết sẽ làm việc với Việt Nam để giải quyết tốt các vấn đề còn tồn tại sau chiến tranh.
Hôm nay, để tỏ lòng trân trọng cũng như tưởng nhớ đến những người lính trong quá khứ, tôi xin trao lại hai kỷ vật từ thời chiến tranh cho người Việt Nam. Quân đội Mỹ chúng tôi mong muốn và hy vọng những kỷ vật này sẽ được trao trả về cho người thân trong gia đình của người lính ấy".
Hiện tại, cuốn nhật ký được lưu giữ tại Bảo tàng lịch sử Quân sự Việt Nam và đang trong quá trình xác minh người thân của chủ nhân cuốn nhật ký.
Theo quan sát của chúng tôi, cuốn nhật ký được viết bằng bút bi, trong một cuốn sổ tay nhỏ vừa đủ để cho vào túi áo. Hiện những trang nhật ký còn in đậm nhiều vết máu thấm đẫm trong các trang viết.
Có lẽ, thời điểm mà người lính Mỹ ở phía bên kia chiến tuyến nhặt được thì chủ nhân của cuốn nhật ký đã hy sinh. Nhiều người cho rằng, có thể cuốn nhật ký đã thấm máu của người chiến sỹ cách mạng.
Theo những gì người chiến sỹ này ghi chép, cuốn nhật ký được viết vào thời điểm từ năm 1971- 1972 tại chiến trường phía Nam. Địa danh được nhắc đến đầu tiên trong cuốn nhật ký là sông Vàm Cỏ Đông (một chi lưu trong hệ thống sông Đồng Nai). Rồi tiếp đó là dòng Cửu Long. Trong cuốn nhật ký có bức tranh vẽ ngôi nhà sàn của đồng bào Khơ Me.
Ngoài ra, chủ nhân của cuốn nhật ký có nhắc đến địa danh xã Minh Nghĩa, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa. Đặc biệt, điều khiến tôi xúc động là kèm theo cuốn nhật ký là bức ảnh của một người con gái với dáng điệu của một tiểu thư đài các Sài Gòn xưa.
Bức ảnh người con gái được kèm theo trong cuốn nhật ký.
|
Theo như nội dung trong cuốn nhật ký, người viết có tên là Nguyễn Văn Nam, hoặc Nguyễn Nam. Đọc những trang viết của chiến sỹ này, có thể nhận ra, anh là người sống tình cảm. Trong nhật ký, người viết có nhắc đến tên của một số người, như: Mến gửi em Hà Thị Rốt, Phạm Thị Lịch, trường Trung cấp Nông nghiệp, Hậu Lộc, Thanh Hóa... có lẽ, những người được nhắc đến trong nhật ký là đồng đội hoặc là người thân của anh.
Trong gần 20 trang viết không có một dòng chữ nào ghi rõ quê hương anh ở đâu hay anh thuộc đơn vị bộ đội nào. Cũng do lâu ngày, nên các dòng chữ đã phai đi nhiều. Vết máu đã làm nhòe đi nhiều trang viết nên rất khó đọc.
Độc đáo hình tượng hoa sen trong tâm hồn người lính
Trong tất cả các trang viết và vẽ, người chiến sỹ ấy luôn dành nhiều cảm xúc và suy nghĩ của mình về chiến tranh, về tình yêu. Trong đó, có những cảm xúc rất đẹp về sen và trăng ở những khoảnh khắc được nghỉ ngơi giữa hai trận chiến.
Như nhiều cuốn nhật ký chiến trường được phát hiện trước đây, trong cuốn nhật ký của Nguyễn Văn Nam có những dòng viết rất rắn rỏi thể hiện ý chí chiến đấu vì mục đích thống nhất đất nước.
"Dù chiến tranh 10 hay 20 năm hoặc lâu hơn nữa, thì ta tiếp tục quét sạch nó đi chứ không chịu làm nô lệ"; "Vì chủ nghĩa xã hội, vì lý tưởng cộng sản, thanh niên anh dũng tiến lên". Hay những trang anh dành để chép bài thơ chúc tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh... những dòng viết đầy ý nghĩa ấy xuất hiện ở những trang đầu của cuốn nhật ký.
Theo mốc thời gian, đây là một cuốn nhật ký được viết vào thời điểm khốc liệt nhất ở chiến trường Nam Bộ nhưng anh không viết nhiều về cảnh chiến đấu hay sự khốc liệt của chiến tranh. Chiến sỹ Nguyễn Văn Nam dành phần lớn các trang viết để nói lên tâm sự thầm kín của mình về tình yêu và nỗi nhớ. Về những cảm xúc rất thật của anh về người yêu, quê hương, bạn bè.
Đặc biệt, hình ảnh hoa hồng, sen và trăng được lặp đi, lặp lại nhiều lần trong các trang nhật ký thể hiện tinh thần lạc quan, lãng mạn của người chiến sỹ cách mạng giữa mưa bom, bão đạn, cái chết luôn cận kề.
Hình tượng hoa sen và trăng được anh đưa vào thơ, vào các trang viết và những nét ký họa đơn giản. Các bức tranh anh vẽ cho thấy tác giả của nó không phải là một họa sỹ nhưng có tâm hồn đậm chất nghệ sỹ. Lần giở các trang nhật ký, thỉnh thoảng ta lại thấy hoa sen, "em" và "anh" cùng xuất hiện trong một bức ký họa.
Có những trang viết, người chiến sỹ như chìm đắm trong hương sen. Điểm độc đáo này khiến chúng tôi cho rằng, nơi chiến sỹ Nguyễn Văn Nam chiến đấu lúc đó là chiến trường Tây Nam Bộ. Nơi có dòng Cửu Long với bạt ngàn cánh đồng sen đã mang đến cho anh lính cụ Hồ những tình cảm đặc biệt về loài hoa thanh cao này.
Có những trang viết trong cuốn nhật ký, anh phải thốt lên một cách hóm hỉnh và đầy yêu thương: "Hương sen bay thơm ngát tới lòng anh, chiến trường lửa đạn để dành gửi em". Điều này cho thấy, người chiến sỹ này rất lãng mạn. Ngoài sen, anh Nguyễn Văn Nam còn nhắc tới hình tượng nữa là trăng. Trăng trong nhật ký cũng đẹp và đầy chất thơ.
Tất nhiên, cũng như sen, mỗi lần nhắc đến trăng, anh lính Nguyễn Văn Nam lại nói về tình yêu và người yêu. Người con gái được dành tình cảm lớn nhất, đặc biệt nhất trong những dòng nhật ký này mang tên là Như (không rõ họ - do chữ bị nhòe nên PV không đọc rõ).
4 ngôi trường cổ được xếp hạng di tích ở Sài Gòn
Phòng học, sân trường là nơi gắn liền ký ức biết bao thế hệ học sinh ở Sài Gòn.
Nguyễn Thị Minh Khai
Trường Nguyễn Thị Minh Khai lúc mới xây dựng. Ảnh: Panoramio.
|
Ngôi trường dành cho nữ được thành lập năm 1913. Hai năm sau trường tuyển khóa đầu tiên gồm 42 nữ sinh thuộc những gia đình sống ở Sài Gòn và các vùng lân cận. Dần dần, có nhiều học sinh từ các tỉnh lên học nên trường có thêm nội trú.
Đồng phục lúc này là áo dài tím, tượng trưng cho sự thuỳ mị, tinh khiết của người phụ nữ Việt Nam. Được nhiều người gọi là trường Nữ sinh Áo Tím, song tên chính thức là Collège Des Jeunes Filles Indigènes (Trường của những thiếu nữ bản xứ).
Trường được biết nhiều hơn với tên "Nữ sinh áo tím". Ảnh: Panoramio.
|
Năm 1953, đồng phục trường đổi sang áo dài trắng với phù hiệu là đóa mai vàng, chương trình giáo dục bằng tiếng Pháp, tên trường được đổi sang tiếng Việt (Trường Nữ Trung học Gia Long). Sau năm 1975, trường được đổi tên thành Nguyễn Thị Minh Khai cho đến nay.
Marie Curie
Thành lập năm 1918, trường THPT Marie Curie được đặt theo tên nhà khoa học người Ba Lan - Pháp đoạt giải Nobel. Đây là một trong những trường trung học lâu đời nhất của Sài Gòn và duy nhất không thay đổi.
Kiến trúc đậm chất Pháp lưu lại trên cổng chào, từng góc cầu thang gỗ, khu vườn với đài phun nước... vẫn còn đến ngày nay.
Cổng trường Marie Curie ngày xưa. Ảnh: Panoramio.
|
Trường do Ban giám hiệu Pháp quản lý, giảng dạy bằng tiếng Pháp và chỉ dành cho nữ sinh trung học người Pháp cùng số ít người Việt Nam xuất thân từ gia đình giàu có, thế lực ở Sài Gòn. Khuôn viên của trường có cả một khu nội trú dành cho học sinh ở tỉnh lên học.
Ban đầu trường Marie Curie chỉ dành cho nữ sinh.
|
Kể từ năm 1970 trường bắt đầu nhận nam sinh. Sau năm 1975, các giáo viên người Pháp về nước giao trường lại cho Sở Giáo Dục và Đào tạo TPHCM.
Năm 1997, trường được chuyển thành THPT bán công Marie Curie. Có thời điểm, đây là trường THPT lớn nhất nước với hơn 5.000 học sinh mỗi năm. Mười năm sau đó trường được đổi lại thành trường THPT công lập, giảm dần sĩ số nhằm tăng chất lượng giáo dục.
Trường chuyên Lê Hồng Phong
Trường Lê Hồng Phong năm 1931. Panoramio.
|
Mang kiến trúc cổ điển kiểu Pháp, trường được thành lập năm 1927 và là một trong 3 trường trung học đầu tiên tại Sài Gòn với tên gọi ban đầu là Petrus Ký. Một năm sau trường khai giảng khoá đầu tiên với 200 học sinh.
Thời điểm 1976-1977, trường được đổi tên thành Lê Hồng Phong.Năm học 1990-1991, nơi này được giao nhịêm vụ chuyên đào tạo học sinh giỏi cho TPHCM.
Đến năm 1995, Thủ tướng giao trọng trách cho trường THPT chuyên Lê Hồng Phong là trung tâm chất lượng cao các tỉnh, thành phía Nam.
Trường Lê Hồng Phong năm 1972. Ảnh: Panoramio.
|
Đây cũng là nơi khai sinh ra cuộc thi Olympic truyền thống 30/4 hằng năm (bắt đầu từ năm 1995), dành cho học sinh khối 10 và 11 của các trường THPT chuyên phía Nam.
THCS Hồng Bàng
Là nơi học nội trú cho con những người Pháp đến Việt Nam làm việc và lập gia đình với người bản xứ, trường THCS Hồng Bàng được người Pháp xây dựng năm 1933. Nơi này sau đó trở thành một chi nhánh của trường Jean - Jacques Rousseau tại Chợ Lớn - Sài Gòn.
Trường THCS Hồng Bàng lúc mới xây dựng. Ảnh tư liệu.
|
Đến năm 1967, người Pháp giao trường cho Việt Nam thành lập Trung tâm giáo dục Hồng Bàng. Sau năm 1975, chính quyền cách mạng tiếp quản trường cho đến nay.
Sành điệu như phụ nữ Sài Gòn những năm 60-70
Nếu như ở các nơi khác, nhất là nông thôn, phụ nữ thoa chút son cũng bị đánh giá là đua đòi, mặc quần loe là lai căng, thì người Sài Gòn vẫn vô tư diện jeans loe thời thượng.
Quy luật mốt quay vòng trong thời trang đang là thứ hiện hữu trong những ngày tháng này. Những thứ được coi là mốt trong vài năm gần đây thì đã được phụ nữ Sài Gòn ăn vận cách đây vài chục năm.


7/24/2015 01:47:00 CH
doanh nhan
