Thứ Hai, 4 tháng 5, 2015

Chuyện ít biết về vụ giết hại nữ nghệ sĩ cải lương Thanh Nga

Đã ngót 37 năm trôi qua, nhưng cho đến bây giờ mỗi khi nhắc lại vụ án xảy ra tại số nhà 114 đường Ngô Tùng Châu, quận 1, TP HCM vào đêm 26/11/1978, nhiều người vẫn còn luyến thương cô đào kiều diễm, tài năng, 28 năm sống hết mình cho nghệ thuật cải lương: Thanh Nga!
Cái chết của nữ nghệ sĩ rơi vào bối cảnh những đêm diễn xuất thần vai Thái hậu Dương Vân Nga trên sân khấu đoàn Thanh Minh, trong lúc đất nước phải đối phó với "thù trong giặc ngoài" và những phức tạp về mặt kinh tế, xã hội. Trước đó, tại rạp Lux, trong vở Tiếng trống Mê Linh khi Thanh Nga và Thanh Sang (vai Trưng Trắc và Thi Sách), đang diễn say sưa, thì bọn giấu mặt đã tung lựu đạn về phía sân khấu.
Chuyện ít biết về vụ giết hại nữ nghệ sĩ cải lương Thanh Nga
Nữ nghệ sĩ Thanh Nga
Ai giết Thanh Nga, bọn chính trị phản động hay tội phạm hình sự? Một câu hỏi hình thành trong đầu hàng chục ngàn người theo sau linh cữu cô đào khả ái với tâm trạng xúc động, xót thương, phẫn nộ. Và câu hỏi này vẫn còn vương vấn trong ký ức của họ nhiều năm sau.
Qua 37 năm, đến nay, nhiều nhà chuyên môn vẫn đánh giá vụ án Thanh Nga là một trong những chuyên án lớn nhất thành phố. Lớn trên nhiều khía cạnh: Tổn thất về sinh mạng con người; cơ quan điều tra phải tung nhiều biện pháp nghiệp vụ, sử dụng nhiều nhân viên; ảnh hưởng lớn rộng trong dư luận quần chúng.
Thật vậy, ngoài sự quan tâm của Thành ủy, sự có mặt thường trực tham gia chỉ đạo vụ án của đại tá Trần Lung, Cục trưởng Cục Cảnh sát hình sự, Công an thành phố Hồ Chí Minh cùng một lúc điều tra cả hai lĩnh vực chính trị và hình sự.
Mọi phương tiện tốt nhất được tập trung cho vụ án (kể cả việc đưa hai chó bẹc-giê đi máy bay từ Hà Nội vào), mỗi bước điều tra đều được tiến hành chặt chẽ, công phu (sàng lọc 3.000 người lai Tây, kiểm tra hàng ngàn chiếc xe Volkswagen, xác minh nhiều người, di động nhiều địa điểm).
Trong quá trình truy tìm đầu mối của vụ án, các mũi trinh sát an ninh phát hiện một số nhen nhóm chính trị phản động, nhóm nào cũng "rỉ tai" giành công đã hạ sát nữ nghệ sĩ Thanh Nga và chồng là Phạm Duy Lân.
Trong các tổ chức này, có những nhóm danh xưng rất kêu: "Lực lượng chí nguyện quân Đông Dương", "Lực lượng tổng hợp Liên bang Đông Dương". Đến khi nhân sự của các tổ chức này lần lượt ghi danh tại trại giam, thì những kẻ cầm đầu mới xuống giọng thú nhận: "Bọn em tự nhận, nhằm gây thanh thế".
Ở mũi hình sự, các trinh sát cũng phát hiện một băng cướp khét tiếng do Trần Đức Thuận cầm đầu. Trước giải phóng, trên đường Trương Minh Ký có một ngôi đền mang tên Sòng Sơn, nổi tiếng linh thiêng. Vợ con tướng tá, nhân viên cao cấp chế độ cũ thường tới lui cúng vái, xin xăm, đoán số.
Băng cướp của Trần Đức Thuận vẫn liều lĩnh phục kích, xông ra khống chế nhân viên bảc vệ, cướp của các quý phu nhân. Liều lĩnh được vài lần, băng cướp sa lưới cảnh sát, bị bắt đày đi Côn Đảo. Năm 1976, được chính quyền cách mạng khoan hồng, những tên đầu sỏ trong băng cướp quaỵ về tiếp tục hoạt động. Băng cướp này đã gây ra 60 vụ cướp của, bắn chết 10 người, bắn bị thương 15 người.
Sau khi trinh sát truy đến xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn bắt Trần Đức Thuận và hàng chục đồng bọn, có một tên lợi hại nhất băng cướp tẩu thoát là Lê Văn Giỏi. Tên cướp này sử dụng súng thành thạo hai tay và rất gan lì.
Sau nhiều ngày truy tầm, trong một cuộc phục kích ở Gò Vấp, trinh sát buộc phải bắn hạ Giỏi, khi hắn cùng một đồng bọn cố tìm đường tẩu thoát và cố ý chống trả. Trinh sát chỉ bắn nhanh hơn Giỏi 1 tích tắc. Ngoài khẩu súng Giỏi giắt trong người, trong cốp xe Vespa còn có 1 khẩu colt 45, 2 quả lựu đạn. Băng cướp Sòng Sơn coi như xóa sổ từ đây.
Cuộc điều tra thủ phạm chính của vụ án Thanh Nga hết sức gay go. Có những phát hiện, phần đầu là đốm lửa lóe sáng, phần cuối lại là đống tro lạnh lùng. Trinh sát phải nhiều ngày nằm gai, nếm mật. Trong lúc truy tìm manh mối một vụ án, nhân viên điều tra thường liên tưởng đến những vụ án có tình tiết tương tự đã xảy ra, hầu tìm những lời giải cho bài toán hóc búa trong đầu.
Ban chuyên án đã làm sống dậy vụ án bắt cóc cháu Tô-rô, con nữ nghệ sĩ Kim Cương, xảy ra một năm trước đó, mà công an vẫn đang truy tầm thủ phạm. Trong hàng chục điểm trùng hợp về sự việc, lai lịch Thanh Nga - Kim Cương, nhân viên điều tra thấy cả hai sự kiện đau lòng đều xảy ra vào ngày 26 (cháu Tô-rô bị bắt cóc ngày 26/12/1977) và 2 tên tội phạm của 2 vụ án đều có hình dạng giống nhau, một cao, một thấp, đều trạc tuổi 30.
Trong lúc cơ quan điều tra điên đầu trước hàng loạt ẩn số, thì ngày 6/2/1979 xảy ra vụ bắt cóc cháu Phương, con bác sĩ Nguyễn Lã Hỷ, công tác tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Bọn tội phạm đùa trựớc mũi công an. Những trinh sát tinh nhuệ được điều qua điều tra vụ án mới này.
Khi thuyết phục được gia đình nạn nhân cộng tác, màn lưới của công an giăng ra. Cái giá 20 lượng vàng do bọn bắt cóc đưa ra cũng đồng với cái giá mà nữ nghệ sĩ Kim Cương phải chuộc con về. Trong một cuộc phục kích, trinh sát bắn trúng lưng làm trọng thương tên Nguyễn Văn Hóa, phải vào bệnh viện cấp cứu. Vụ án bung mối gút từ đây.
Những tên trong băng bắt cóc cháu Phương lần lượt sa lưới, trong đó có Nguyễn Thanh Tân và Nguyễn Văn Đức. Cháu Phương được Tân đưa về cất giấu ở ấp Ngăn Rô, Sóc Trăng, nơi một năm trước cháu Tô-rô cũng bị giam giữ. Như vậy, hai vụ bắt cóc tống tiền con của hai nhân vật có tiếng tăm trong xã hội đã rõ, còn vụ Thanh Nga?
Khi đã bắt cóc cháu Tô-rô và thực hiện được yêu sách với nữ nghệ sĩ Kim Cương, bọn Tân và Đức bèn tìm đến con nữ nghệ sĩ Thanh Nga, cháu Cúc Cu. Chúng hiểu, những nghệ sĩ luống tuổi, có duy nhất đứa con, thì tình thương của họ đối với núm ruột như thế nào. Chúng rình rập nhiều lần, nhưng lúc nào nghệ sĩ Thanh Nga cũng giữ con bên mình.
Khát vọng cuồng điên thúc đẩy chúng phải liều lĩnh. Tối 26/11/1978, Tân và Đức chở nhau bằng xe Honda 67, chờ đợi và bám theo chiếc Volkswagen của nghệ sĩ Thanh Nga đến tận nhà. Chúng cố giành giựt cháu bé, cha mẹ cháu quyết giữ lấy con. Vừa hốt hoảng vừa bực mình, Tân bắn một phát vào ngực anh Phạm Duy Lân, rồi sau đó, bắn một phát vào người nghệ sĩ Thanh Nga. Hai tên tẩu thoát...
Đầu đạn thu được tại hiện trường là đạn súng P.38, Tân khai đã quăng khẩu súng dưới cầu Bình Lợi. Những thợ lặn giỏi nhất Phòng Cảnh sát phòng cháy chữa cháy được đưa đến mò tìm khẩu súng. Ngày thứ nhất không có. Ngày thứ hai, chất nổ do lính gác cài dưới cầu trước đây để chống lại hoạt động của các chiến sĩ đặc công phát nổ, hai chiến sĩ chữa cháy hy sinh!
Bản chất của bọn tội phạm chuyên nghiệp ngoan cố, chúng chỉ chịu nhận những gì mà cơ quan điều tra đã biết. Tên Tân cố tình khai láo nơi cất giấu khẩu súng, vì hắn biết đó là vật chứng quan trọng nhất về hành vi của hắn. Cuối cùng, khẩu súng cũng được tìm thấy ở đường cống sát nhà cầu tại nơi cư ngụ của tên Nguyễn Văn Mai, em ruột Tân.
Đầu đạn tại hiện trường và 7 viên còn lại trong khẩu súng đều mang ký hiệu GFI-LM 38-63, cỡ 9mm. Chính khẩu súng này, Nguyễn Thanh Tân cùng đồng bọn đã gây ra 3 vụ bắt cóc tống tiền lớn nhất từ sau ngày giải phóng.
Điều đáng nói trong tiến trình điều tra vụ án Thanh Nga, Công an thành phố đã quăng một "mẻ lưới" nhưng kéo được nhiều "loại cá”. Tuy nhiên, thắng lợi nhiều, tổn thất cũng không phải nhỏ. Tổn thất lớn nhất là con người. Ngoài một Thanh Nga tài danh, một "Đổng Lân" tên tuổi dưới chế độ cũ, hai chiến sĩ chữa cháy cũng trở thành nạn nhân của vụ án.
Ngược lại, bọn tội phạm cũng phải trả giá đắt cho hành động của chúng: 1 bị bắn chết tại hiện trường (Lê Văn Giỏi), 1 bị bắn trọng thương (Nguyễn Văn Hóa), 2 lãnh án tử hình (Nguyễn Thanh Tân, Nguyễn Văn Đức).
Suốt 40 năm qua, để giữ vững bình yên cho cuộc sống của nhân dân thành phố, lực lượng công an đã đổ nhiều công sức, thậm chí cả sinh mạng để đấu tranh với các băng nhóm tội phạm.
Vụ án Thanh Nga là một dẫn chứng trong cuộc chiến không kém phần cam go, quyết liệt giữa thời bình, hẳn rằng trong thời đại phức tạp như hiện nay trận địa an ninh trật tự sẽ là một thách thức rất lớn đối với khả năng, bản lĩnh của các chiến sĩ công an.

Chủ Nhật, 3 tháng 5, 2015

Chính quyền Nixon điên cuồng ngăn chặn vụ rò rỉ năm 1971

Sau khi sao chép được tài liệu mật, cựu quan chức Bộ Quốc phòng Mỹ Daniel Ellsberg đã cung cấp phần lớn cho phóng viên Neil Sheehan của tờ The New York Times. Ngoài ra, ông cũng đưa bản sao tài liệu mật cho một loạt tờ báo hàng đầu khác của Mỹ lúc bấy giờ.
 >> Hồ sơ Lầu Năm Góc (phần 1): Chân dung người tiết lộ tài liệu mật về Việt Nam

Ông Daniel Ellsberg trả lời báo giới bên ngoài Tòa nhà liên bang ở Los Angeles năm 1973. (Ảnh:Ông Daniel Ellsberg trả lời báo giới bên ngoài Tòa nhà liên bang ở Los Angeles năm 1973. (Ảnh: AP)

Chủ Nhật, ngày 13/6/1971, tờ The New YorkTimes đăng những trích đoạn đầu tiên của 7.000 trang hồ sơ mật mang tên "Quan hệ Mỹ-Việt giai đoạn 1945-1967: Nghiên cứu do Bộ Quốc phòng thực hiện". Bộ hồ sơ nêu chi tiết hành động can dự quân sự và chính trị của Mỹ tại Việt Nam trong giai đoạn 1954-1967, do Ellsberg thu thập được.

Chính quyền Washington gần như ngay lập tức phản ứng một cách hung hãn bằng việc cách chức nhiều người mà họ tình nghi làm lộ bí mật. Thậm chí, Tổng thống Nixon khi đó còn tức giận ra lệnh cho cố vấn an ninh Henry Kissinger: “Hãy bỏ tù ngay những tên đầu não”. 

Tiếp đó, nội các của Tổng thống Nixon nộp đơn khẩn cấp xin Bộ Tư pháp Mỹ một lệnh cấm tạm thời trong khi nỗ lực tìm một lệnh cấm chính thức từ Tòa án Tối cao ngăn không cho tờ The Times và các báo chí tiếp tục đăng tải những tin tối mật của quốc phòng với lý do chúng có thể gây tổn hại tới an ninh quốc gia. 

Do đó, tờ The Times buộc phải tạm ngừng xuất bản để tham gia đấu tranh pháp lý, bảo vệ quyền được đăng tải tài liệu mật.

Đến ngày 18/6, tờ The Washington Post bắt đầu xuất bản hàng loạt bài báo về đề tài trên. Ngay ngày hôm đó, ban biên tập tờ báo nhận được một cuộc gọi từ Trợ lý Bộ trưởng Tư pháp William Rehnquist, yêu cầu họ dừng xuất bản các tài liệu này. 

Tuy nhiên, theo sau tờ The Times và The Washington Post, báo Boston Globe và các tờ báo khác lần lượt cho đăng tài liệu mật về chiến tranh Việt Nam nêu trên. Không chỉ vậy, Thượng nghị sĩ Mike Gravel của bang Alaska, một nhà phê bình thẳng thắn về chiến tranh Việt Nam, còn đọc to chúng lên trong một buổi điều trần tại một tiểu ban của Thượng viện. 

Hồ sơ Lầu Năm Góc (The Pentagon Papers)là kết quả của sự phân loại trên hàng ngàn tài liệu mật hàng đầu trong kho lưu trữ của Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao, Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA) Mỹ. Những gì được ghi trong tập tài liệu này cho thấy mức độ can dự quân sự của Mỹ ở Việt Nam lớn hơn nhiều so với những gì đã được công bố trước đó.

Chính bởi mức độ bí mật của tài liệu và việc nội dung mà nó phơi bày hoàn toàn  trái với những gì chính quyền Mỹ trước đó tuyên bố đã khiến Tổng thống Richard Nixon và Cố vấn an ninh Henry Kissinger cảm thấy như bị giáng một cú đấm bất ngờ. 

Tuy nhiên, bất chấp sức ép mạnh mẽ từ chính phủ Mỹ, tờ Washington Postvà The Times cùng các cơ quan truyền thông báo chí khác của Mỹ nhất quyết không chịu tiết lộ Daniel Ellsberg là nguồn gốc cung cấp tin cho họ. Các báo này cũng nỗ lực tìm kiếm hỗ trợ pháp lý để bảo vệ quyền xuất bản. 

Hai tuần sau đó, chính phủ thất bại trong việc chứng minh thiệt hại an ninh do việc đăng tải tài liệu mật trên báo gây ra, Tòa án Tối cao Mỹ ra phán quyết cho phép tờ The Times có quyền tiếp tục đăng các tài liệu này, căn cứ vào đạo luật Tự do ngôn luận. Phán quyết này lại là một đòn đau giáng thẳng vào nội các của Tổng thống Richard Nixon.

Tổng thống Richard Nixon. (Ảnh:
Tổng thống Richard Nixon. (Ảnh: Huffington Post)

Tuy nhiên, không từ bỏ quyết tâm trả đũa, chính quyền Nixon đã tiến hành một loạt hoạt động làm mất uy tín của Daniel Ellsberg.

Thợ sửa ống nước của Nixon đã đột nhập vào văn phòng bác sĩ tâm thần của Ellsberg để tìm thông tin làm chống lại ông. Đây chính là nguyên do dẫn đến vụ bê bối Watergate nổi tiếng trong lịch sử nước Mỹ. Vụ viện này cũng từng làm tổn hại đáng kể tới uy tín của cố vấn an ninh Henry Kissinger. 

Ngày 13/6/1971, trong cuộc trò chuyện với Kissinger, Nixon tuyên bố rằng Hồ sơ Lầu Năm Góc chỉ ra sai lầm của những tiền nhiệm nhiều hơn ông, nhưng vẫn lên án vụ rò rỉ là "vô lương tâm".
 
(Còn tiếp)

Long Nguyễn
Theo History

Thứ Bảy, 2 tháng 5, 2015

Người Nga nói thật về Chiến tranh Việt Nam

Cũng như không ai giấu diếm sự tham gia của các quân nhân chúng ta (Liên Xô) trong các hoạt động tác chiến tại Việt Nam.

Nhưng không phải của các phi công mà là của các chiến sỹ tên lửa. Khác với pháo cao xạ và MiG, người Việt Nam nắm bắt việc sử dụng tên lửa khó khăn hơn. Chính vì vậy mà ở giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh (phá hoại bằng không quân của Mỹ -ND), chính các chiến sỹ tên lửa Liên Xô đã sử dụng S-75.
Những quả tên lửa S-75 đầu tiên được phóng trên lãnh thổ Việt Nam là vào ngày 25/7/1965 – các tổ hợp tên lửa của Trung đoàn tên lửa phòng không số 236 Quân khu phòng không Matxcova (đang có mặt tại Việt Nam) đã bắn hạ 03 chiếc F-4 “Con ma”.
Người Nga nói thật về Chiến tranh Việt Nam
Phi công Mỹ lắp vũ khí cho máy bay lên thẳng UH-1 chuẩn bị đánh nhau với các du kích Việt Cộng tại tỉnh Vĩnh Long, Nam Việt Nam, 18/3/1963 . (Ảnh: Horst Faas/AP)
Không quân Mỹ có vinh dự là Lực lượng không quân đầu tiên trên thế giới đối đầu với các đợt tấn công bằng tên lửa phòng không ồ ạt. Cho đến tận ngày cuối cùng của chiến tranh (Việt Nam) - phải nói rằng trên thực tế đã diễn ra một cuộc chiến thực sự giữa các bộ não của các Trung tâm nghiên cứu khoa học và các phòng thiết kế Xô Viết và Mỹ.
Chính họ (các nhà khoa học và thiết kế) là người góp phần quyết định ai mạnh hơn – không quân hay bộ đội tên lửa phòng không. Hiệu quả tác chiến rất cao thời kỳ đầu (tức là số lượng tên lửa phải sử dụng để tiêu diệt một máy bay) của S-75 đã giảm xuống nhiều lần do Mỹ sử dụng phương tiện tác chiến điện tử, tên lửa chống radar và các chiến thuật mới.
Mặc dù vậy, người Mỹ vẫn không thể nào giải quyết được vấn đề các tổ hợp tên lửa phòng không (của Bắc Việt Nam-ND). Đến nay, phía Mỹ đã chính thức thừa nhận tổn thất của Mỹ từ S-75 (sau đây lần lượt xếp theo các kiểu máy bay) như sau:
15 máy bay ném bom chiến lược B-52, 02 hoặc 03 máy bay ném bom chiến thuật F-111, 32 máy bay tiêm kích F-4, 08 F-105, 01 F-104, 11 F-8, 04 máy bay trinh sát RB-66, 05 RF-101, 01 O-2, 26 máy bay cường kích A-4, 09 A-6, 18 A-7, 03 A-3, 03 A-1, 01 AC-130, 01 máy bay vận tải C-123, 01 máy bay lên thẳng CH-53.
Thiệt hại trên thực tế chắc chắn phải cao gấp nhiều lần (số lượng tối đa máy bay Mỹ bị các tổ hợp tên lửa phòng không (Bắc Việt Nam-ND) bắn rơi -1.770 chiếc), nhưng bây giờ thì đã rất khó xác định (và cũng không nhất thiết phải làm thế).
Tổng cộng từ năm 1965 đến năm 1972 Liên Xô đã cung cấp cho Việt Nam 95 tiểu đoàn (cơ số đạn và tổ hợp phóng –ND) S-75 và 7.658 quả tên lửa phòng không.
Đến cuối chiến tranh đã có 6.806 quả đạn đã sử dụng và bị mất (trên lãnh thổ Trung Quốc), lực lượng còn sẵn sàng chiến đấu đến thời điểm kết thúc chiến tranh – 43 tiểu đoàn.
Ngoài ra, vào giai đoạn cuối chiến tranh chống Không quân Mỹ, tổ hợp tên lửa phòng không vác vai “ Strela-2” cũng được bắt đầu sử dụng. Từ đầu năm 1972 đến tháng 01/1973, các chiến sĩ cộng sản Việt Nam đã dùng “Strela-2” bắn hạ 29 máy bay Mỹ (01 F-4, 07 O-1, 03 O-2, 04 OV-10, 09 A-1, 04 A-37) và 14 máy bay lên thẳng ( 01 CH-47, 04 AH-1, 09 UH-1).
Ngoài các chiến sỹ tên lửa phòng không Liên Xô, đặc nhiệm GRU (Tổng cục Tình báo quân sự Bộ Tổng tham mưu Các lực lượng vũ trang Liên Xô-ND) cũng tham gia chiến đấu tại Việt Nam, tuy không được công bố công khai nhưng cũng không ai giấu diếm thái quá.
Ví dụ, tháng 5/1968 một nhóm đặc nhiệm GRU gồm 9 người đã tấn công một căn cứ bí mật của Mỹ trên lãnh thổ Campuchia có biệt danh “Flying John” được sử dụng để tung các nhóm gián điệp- biệt kích vào Bắc Việt Nam và cứu các phi công của các máy bay Mỹ bị bắn hạ.
Trong căn cứ này có gần 20 máy bay lên thẳng, trong đó có 04 chiếc máy bay lên thẳng tấn công mới nhất thời kỳ đó là “ SuperCobra”. Tuy bị hy sinh 03 người, nhưng đặc nhiệm GRU đã đưa được 01 chiếc “Super Cobra” về Bắc Việt Nam, phá hủy hoặc phá hỏng những chiếc còn lại, giết và làm bị thương 15 quân nhân Mỹ. Còn bao nhiêu chiến dịch như vậy, rất khó xác định.
Con số tổn thất trong tác chiến của Các lực lượng vũ trang Liên Xô trên lãnh thổ Việt Nam trong giai đoạn từ tháng 7/1965 đến cuối năm 1974 được công nhận chính thức là 13 người.
Nhưng tất nhiên, chính người Việt Nam mới là người giành chiến thắng trong chiến tranh. Giai đoạn bước ngoặt của cuộc chiến có lẽ là năm 1968. Lần đầu tiên trong lịch sử người ta mới “ngộ” ra rằng, những hình ảnh trên truyền hình về chiến tranh có khi còn quan trọng hơn cả chính chiến tranh.
Người Nga nói thật về Chiến tranh Việt Nam
Máy bay C-123 rải chất diệt cỏ tại các địa điểm đóng quân của bộ đội Việt Nam ("cộng sản") tại một khu vực giữa Sài gòn và Đà lạt tại Miền Nam Việt Nam, 02/8/1963. (Ảnh: Horst Faas/AP Photo)
Ngày 30/01/1968, 84.000 du kích Nam Việt Nam và các chiến sỹ Bắc Việt đã bắt đầu cuộc Tổng tấn công “Tết Mậu thân”, công kích mãnh liệt 36 trong 43 tỉnh lỵ Nam Việt Nam. Các chiến sĩ cộng sản đã chiếm cố đô Huế, những trận chiến ác liệt diễn ra ngay trên các đường phố Sài gòn.
Toàn nước Mỹ được tận mắt chứng kiến những hình ảnh này trên màn hình TV ngay trong nhà của mình. Và đến lúc này thì không ai và không cái gì có thể thuyết phục được người dân Mỹ nữa – mọi công dân Mỹ đã hiểu rằng người Mỹ đã thua và cần phải nhanh chóng chấm dứt cuộc chiến.
Đến đầu năm 1968 thì lực lượng của Quân đội Mỹ, Quân đội Việt Nam Cộng hòa, Quân đội Úc, Quân đội Nam Hàn đang có tại Nam Việt Nam là 17 sư đoàn bộ binh, 02 sư đoàn lính thủy đánh bộ, 02 sư đoàn kỵ binh (đường không) – tổng cộng 1,4 triệu tay súng (trong đó có hơn nửa triệu quân Mỹ- chính xác hơn là 550.000 ), 500 xe tăng, 4.500 khẩu pháo, 4.100 máy bay và máy bay lên thẳng.
Chiến dịch Mậu Thân này đã làm suy yếu rất mạnh tiềm lực tác chiến của những người cộng sản. Nhưng bản thân một cuộc tấn công quy mô lớn như vậy (vào các đô thị lớn –ND) cũng làm cho tâm lý –tinh thần của người Mỹ suy sụp không kém.
Không những thế, một nhóm (đại đội-ND) binh sỹ Mỹ của sư đoàn bộ binh số 23 dưới sự chỉ huy của trung úy Calley đã thảm sát dân thường tại làng Mỹ Lai (Sơn Mỹ- nổi tiếng toàn thế giới với cái tên này). Quân nhân Mỹ đã sát hạt toàn những người dân thường vô tội.
Các quân nhân của quân đội chính quy (Mỹ-ND) không có kinh nghiệm tác chiến chống du kích, hơn nữa là chống lại một đối phương cực kỳ thông minh và cũng cực kỳ cứng rắn như những người du kích cộng sản Việt Nam, - họ (những người du kích -ND) chiến đấu trong những điều kiện tự nhiên, khí hậu địa hình quen thuộc (của họ) nhưng lại hoàn toàn xa lạ đối với quân Mỹ.
Vụ thảm sát Sơn Mỹ đã tạo ra những sự thay đổi lớn trong Các lực lượng vũ trang Mỹ . Lầu Năm góc buộc phải ra một sắc lệnh yêu cầu các quân nhân Mỹ phải tuyệt đối tuân thủ các chuẩn mực của luật chiến tranh. Nhưng điều đó đã quá muộn. Uy tín của Quân đội Mỹ đã sụp đổ trong con mắt của toàn thế giới và ngay chính cả trong nhân dân Mỹ.
Nhưng vấn đề chính của người Mỹ lúc này không chỉ còn là sự xâm nhập của lính Bắc Việt vào Miền Nam mà còn là sự tha hóa ngay từ bên trong. Cũng chỉ trong năm 1969, 37 sỹ quan và hạ sỹ quan Mỹ đã bị chính các binh sỹ dưới quyền bắn (giết) chết.
Trước đây trong Quân đội Mỹ chưa từng có trường hợp nào như vậy. Còn ngay trong lòng nước Mỹ thì hiện tượng lính quân dịch (nghĩa vụ- ND) đào ngũ và các hoạt động phản chiến của nhân dân Mỹ đã trở thành một phong trào không thế nào ngăn chặn được.
Cuộc chiến tranh thông tin đã thất bại hoàn toàn (đối với Chính quyền Mỹ) và chính vì thế mà những thắng lợi quân sự (trong năm 1969) đã không còn một chút ý nghĩa nào.
Chính quyền Mỹ nhận thức được rằng trong một đất nước “dân chủ” thì không thể sử dụng một đội quân “nghĩa vụ” để tiến hành một cuộc chiến tranh mà dư luận xã hội (của đất nước đó-ND) không thể chấp nhận (cuộc chiến tranh đó-ND).
Đây là lý do vì sao mà ngay sau khi kết thúc cuộc chiến tranh Việt Nam, Chính quyền Mỹ đã bãi bỏ chế độ quân dịch và xây dựng Quân đội chuyên nghiệp.
Súng máy Gutling lắp trên F-4 để tấn công MiG,17/5/1967. (Ảnh:
Súng máy Gutling lắp trên F-4 để tấn công MiG,17/5/1967. (Ảnh: AP)
Những thử nghiệm trong hơn 50 năm qua cho thấy (ví dụ gần đây nhất là Iraq và Pakistan) là một quân đội đánh thuê (chuyên nghiệp-ND) không thể tiến hành chiến tranh, nếu như không được dư luận xã hội của nước mình chấp nhận (cuộc chiến tranh đó- ND).
Có nghĩa là nếu như một đất nước nào đó có dân chủ thì đất nước đó chỉ có thể tiến hành một kiểu chiến tranh duy nhất – đó là một cuộc chiến tranh phòng thủ chính nghĩa (hoặc là không có một cuộc chiến tranh nào).
Nếu như chính phủ muốn tiến hành một cuộc chiến tranh kiểu khác thì họ buộc phải lựa chọn giữa chiến tranh hoặc dân chủ hoặc là phải học được cách đánh nhau mà không có tổn thất (đây là tư duy của tác giả - ông là người rất phản đối thành lập một đội quân chuyên nghiệp-ND).
Trong các năm 1970 -1971, người Mỹ đã tiến hành các đợt đột kích sang lãnh thổ Lào và Campuchia nhằm cắt đứt tuyến chi viện từ Bắc vào Nam. Cuộc tấn công vào Campuchia mang lại một số kết quả hạn chế, nhưng vụ can thiệp vào Lào đã thất bại thảm hại. Sau các sự kiện đó, Hà nội quyết định là phải giải quyết dứt điểm vấn đề.
Ngày 31/3/1972, một đội quân Bắc Việt Nam quân số không ít hơn 40.000 người và 400 xe tăng – thiết giáp đã tấn công Nam Việt Nam.
Đây thực sự là một cuộc chiến tranh cổ điển điển hình giữa các quân đội chính quy. Sau nhiều trận giao tranh ác liệt, Lực lượng cộng sản đã chiếm được một vùng lãnh thổ rộng lớn ở phía Bắc Nam Việt Nam nhưng cũng chịu tổn thất nặng. Đến nỗi mà thời điểm mà Hà nội lên kế hoạch “Tổng tiến công” được xác định là vào tận năm 1976 (tức 4 năm sau đó).
Nhưng trên thực tế, những người cộng sản Việt Nam đã đạt những điều mình muốn (qua đợt tấn công này-ND), Mỹ buộc phải quyết định rút hoàn toàn lính Mỹ ra khỏi Việt Nam. Tuy nhiên trước khi (ra khỏi nhà) rút người Mỹ cũng đã đóng sập cửa rất mạnh bằng cách tiến hành một đợt không kích ồ ạt chống lại Bắc Việt Nam (chiến dịch “Linebacker-2”) và tự tuyên bố là đã chiến thắng để giữ thể diện.
Trong chiến dịch này Mỹ đã ném xuống Bắc Việt Nam gần 50.000 tấn bom, phá hủy 1.600 công trình. Nhưng cũng trong chiến dịch này Không quân Việt Nam, tuy mất 03 chiếc MiG-2 1 những đã hạ 02 B-52, 04 F-4, 01 RA-5C.
Các tổ hợp tên lửa phòng không S-75 đã bắn hạ, theo các số liệu khác nhau là từ 15 đến 32 B-52, 02 F-111, 02 F-4 trong khi chịu tổn thất là 01 tiểu đoàn (tên lửa phòng không S-75). Có lẽ vì thế mà cái gọi “ chiến thắng” mà Mỹ tự nhận trong chiến dịch này hoàn toàn không thuyết phục một chút nào.
Đầu năm 1973, Hiệp định Paris được ký kết, Mỹ phải rút quân khỏi Việt Nam. Trong cuộc chiến tranh này, Mỹ đã phải trả giá bằng 58.169 binh sỹ và sỹ quan thiệt mạng hoặc mất tích, hơn 200 xe tăng, 3.700 máy bay, 4.800 máy bay lên thẳng, hàng trăm tỷ đô la “cuốn theo chiều gió” và một cú sốc tâm lý cực mạnh.
Người Mỹ rút đi nhưng để lại cho Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa một khối lượng vũ khí khổng lồ.
Quân đội Nam Việt Nam về mặt hình thức đã là một trong những quân đội mạnh nhất trên thế giới (nếu tính về số lượng máy bay chiến đấu thì Quân đội này đứng thứ ba trên thế giới, chỉ sau Quân đội Mỹ và Quân đội Liên Xô) và hơn Quân đội Bắc Việt Nam nhiều lần nếu tính về quân số và vũ khí- trang bị kỹ thuật. Nhưng điều đó đã không còn ý nghĩa gì nữa.
Số phận Chính quyền Nam Việt Nam đã được định đoạt, và có lẽ những người (cầm quyền) ở Sài gòn có khi còn hiểu rõ hơn là ở Hà Nội. (Những người cầm quyền) ở Sài Gòn hiểu rằng người Mỹ sẽ không bao giờ quay trở lại và chỉ còn chờ ngày kết thúc. Yếu tố tâm lý tỏ ra quan trọng hơn nhiều so với số lượng và chất lượng vũ khí.
Nhờ có các căn cứ ở Lào và Campuchia mà quân Bắc Việt có thể tấn công lãnh thổ Nam Việt Nam đồng thời trên toàn bộ tuyến biên giới (với hai nước này).
Tháng 3/1975, khi Khi quân Bắc Việt tấn công Tây Nguyên, Sài Gòn cho rằng đây là một cuộc tổng tấn công nhằm chia cắt Nam Việt Nam thành hai phần. Vì thế họ đã tập trung lực lượng quanh thủ đô (Sài Gòn), gần như tự nguyện nhường toàn bộ phía Bắc (Nam Việt Nam-ND) cho lực lượng cộng sản.
Nhưng bất hạnh (đối với Chính quyền Sài Gòn –ND ) là ở chỗ chính khu vực phía Bắc (Nam Việt Nam-ND) lại là nơi tập trung những lực lượng tinh nhuệ nhất của Quân đôi Sài Gòn. Cuộc “di tản” các lực lượng này đã nhanh chóng biến thành một cuộc tháo chạy hỗn loạn.
Nắm được thời cơ, Hà Nội không còn một chút do dự gì nữa, tất cả các mặt trận đồng loạt tấn công và lúc này thì không ai và không cái gì có thể ngăn cản nổi. Quân đội Việt Nam Cộng Hòa tan rã. Đúng 11 giờ trưa ngày 30/4/1975, lá cờ có ngôi sao vàng được kéo lên trên đỉnh nóc Dinh tổng thống ở Sài Gòn.
Xét tổng thể, nếu tính từ góc độ những hệ quả địa chiến lược và tầm ảnh hưởng đối với nghệ thuật quân sự (thế giới-ND) thì cuộc chiến tranh Việt Nam chỉ đứng sau hai cuộc chiến tranh thế giới trong thế kỷ XX (Chiến tranh thế giới lần thứ nhất và Chiến tranh thế giới lần thứ hai-ND).
Sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc thì hình thái chiến tranh cổ điển này càng lùi sâu vào quá khứ. Thay thế hình thái chiến tranh này (chiến tranh cổ điển-ND) là cuộc chiến tranh công nghệ cao và phương án đáp trả phi đối xứng đối với nó (công nghệ cao-ND) là các cuộc chiến tranh nổi dậy (du kích-khủng bố).
Ngoài ra, chiến tranh thông tin ngày càng có ý nghĩa quan trọng, đôi khi còn thay thế hoàn toàn các hình thái chiến tranh khác.
 Theo Lê Hùng (lược dịch)
Đất Việt

Hồ sơ Lầu Năm Góc (phần 1): Chân dung người tiết lộ tài liệu mật về Việt Nam

Ngày 12/5/2011, Cơ quan lưu trữ quốc gia thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ bất ngờ ra tuyên bố rằng tập tài liệu nổi tiếng "Hồ sơ Lầu Năm Góc" (The Pentagon Papers) không còn là tuyệt mật nữa và công chúng có thể tiếp cận trực tiếp chúng tại một số thư viện.

Tài liệu về Việt Nam được công bố

Tài liệu về Việt Nam được công bố
Quyết định này đồng nghĩa với việc hàng ngàn trang hồ sơ về Chiến tranh Việt Nam trong tài liệu "Quan hệ Mỹ-Việt giai đoạn 1945-1967: Nghiên cứu do Bộ Quốc phòng thực hiện" dài 7.000 cũng được tiết lộ.
"Quan hệ Mỹ-Việt giai đoạn 1945-1967: Nghiên cứu do Bộ Quốc phòng thực hiện" do Bộ trưởng quốc phòng lúc khi đó là Robert McNamara đặt làm vào tháng 6/1967 nhằm ghi lại thấu đáo lịch sử cuộc chiến tranh Việt Nam.
Có lẽ khi tuyên bố trên được đưa ra, nhiều người sẽ đặt ra các câu hỏi như: Tại sao Bộ quốc phòng Mỹ không tiết lộ những bí mật này sớm hơn? Liệu họ có thực tâm tiết lộ những bí mật với các đồng minh? Bí mật lịch sử đã vén màn, liệu các đồng minh của Mỹ có còn tin tưởng vào Mỹ như trước đây?
Thật ra, Mỹ đã ở trong tình thế không thể giữ bí mật lâu dài được nữa vì các tài liệu đó trước đây đã bị rò rỉ gần hết và gây ra những cuộc tranh cãi lớn gây chấn động công chúng Mỹ. Nếu cứ tiếp tục giấu giếm những điều mà mọi người đã đoán biết thì hệ quả của nó còn tai hại hơn cả việc tiết lộ.
Do đó, việc Cơ quan lưu trữ quốc gia cho công bố các tài liệu này được xem chỉ là sự xác nhận một cách chính thức rằng những tài liệu mà Daniel Ellsberg, sĩ quan Lầu Năm Góc từng tham chiến ở Việt Nam, tung ra trước đó là chính xác và nhằm để chấm dứt những đồn đoán không căn cứ.
Chân dung người rò rỉ tài liệu mật của Mỹ
 
Daniel Ellsberg (Ảnh:
Daniel Ellsberg (Ảnh: Newyorker)
Phần lớn Hồ sơ Lầu Năm Góc đã được cựu quan chức Bộ Quốc phòng Mỹ Daniel Ellsberg rò rỉ cho những tờ báo hàng đầu của Mỹ như The New York Times, The Washington Post và The Times vào đầu năm 1971. Ellsberg được người bạn Anthony Russo hỗ trợ sao chép các tài liệu này.
Ellsberg là người gốc Do Thái, sinh trưởng tại Chicago (sinh ngày 7/4/1931), là một người phân tích tình báo chiến thuật chiến lược của quân đội. Ông từng là nhân viên của RAND Corporation - một công ty chuyên phân tích tình hình cho quân đội Mỹ - và Doughlas Air Company - một công ty chế tạo các vũ khí cho Bộ quốc phòng Mỹ. Rand có 1.600 nhân viên và trong số đó có những người làm cho tình báo Mỹ.
Năm 1954, sau khi tốt nghiệp ở Harvard với thành tích xuất sắc, Daniel Ellsberg gia nhập Hải quân Mỹ. Sau 2 năm phục vụ cho Hải quân, ông được trở về công việc dân sự, ông tiếp tục học ở Harvard và tham gia giúp RAND chuyên phân tích tình hình quân sự.
Năm 1964, ông chính thức làm cho Bộ quốc phòng và tham gia biến cố hạm đội USS Maddox xảy ra ở Vịnh Bắc Bộ năm 1964. Năm 1965, ông được chuyển sang làm Bộ ngoại giao đặc trách phân tích tình hình Việt Nam. Năm 1967, ông trở về làm cho RAND và cho Bộ quốc phòng.
Năm 1969, do không còn thiện cảm với sách lược của Mỹ trong Chiến tranh Việt Nam và sau khi nghe Randy Kehler (sinh năm 1944), một trong những người phản chiến thuyết trình cách hùng hồn, ông Daniel Ellsberg trở thành một trong những người chống chiến tranh.
Sau khi đã có thiện cảm với nhóm phản chiến và ở cương vị là một người có thể tiếp xúc được những tài liệu tối mật của quốc gia, gồm tài liệu mật trên, trong Ellsberg không còn chút ảo tưởng nào về cuộc chiến tranh ở Việt Nam hay niềm tin vào những tuyên bố của chính quyền Mỹ.
Trong suốt năm 1970, Daniel Ellsberg cố gắng tìm cách gây ảnh hưởng đối với các nghị sĩ bằng cách thuyết phục các trợ lý văn phòng của họ về những mặt trái của Chiến tranh Việt Nam, nhưng nỗ lực này thất bại.
Sau đó, nhờ sự hỗ trợ của đồng nghiệp Anthony Russo (1934-2008) làm ở RAND, Daniel Ellsberg đã bí mật sao chép lại nhiều tài liệu tối mật và chuyển chúng cho báo chí. Sau đó, chúng được giới truyền thông Mỹ đặt tên là Hồ sơ Lầu Năm Góc (Pentagon Papers).
Ellsberg nhận thức rất rõ ràng rằng việc ông sao chép hồ sơ mật trên có thể khiến ông phải ngồi tù đến hết đời. Sau khi các tài liệu mật được báo chí Mỹ, Daniel Ellsberg phải sống chui lủi.
Ngày 28/6/1971, Daniel Ellsberg và đồng nghiệp Anthony Russo ra đầu hàng FBI ở Boston, bang Massachussett. Chính phủ Liên bang Mỹ sau đó dã truy tố họ về tội danh vi phạm Đạo luật tình báo Năm 1917 (Espionage Act 1917). Sau 2 năm điều tra và nhiều biến chuyển, vào tháng 5/1973, chánh án William M. Byrne, Jr. ra lệnh bãi nại vụ án này.
Sau vụ án này, Daniel Ellsberg đi thuyết trình nhiều nơi về các đề tài chính trị cũng như những bí mật lịch sử liên quan đến Việt Nam và Đài Loan, về sự thật của một cuộc chiến tranh mà Mỹ lừa dối hơn 40 năm trước.
Long Nguyễn
Theo History, New York Times

Thứ Sáu, 1 tháng 5, 2015

Những ai ngăn cản cuộc chiến leo thang?

Ai đưa cỗ máy chiến tranh Mỹ đến Việt Nam là câu chuyện dài, rất dài, nhưng những ai khiến Nội các Lyndon Johnson đi đến quyết định rút dần khỏi Việt Nam là câu chuyện chỉ xảy ra trong vài tháng.

Chỉ vài tháng, sau sự kiện Mậu thân 1968, cuộc tham chiến của Mỹ tại Việt Nam đã bắt đầu được định đoạt, từ những bàn tính trong Nhà Trắng, Lầu Năm Góc và Bộ Ngoại giao…
Từ yêu cầu của William Westmoreland
Theo Townsend Hoopes, nguyên Thứ trưởng Quốc phòng Mỹ phụ trách không quân 1967-1969 (trong bài viết trên The Atlantic Monthly), sự kiện Mậu Thân đã làm thay đổi nghiêm trọng đánh giá về sự tham chiến của Mỹ tại Việt Nam. Tất cả bắt đầu vào ngày 26-2-1968, khi bức điện của tướng Earle Wheeler gửi về Washington từ Sài Gòn. Trước đó ít ngày, Wheeler được Lyndon Johnson phái sang Nam Việt Nam tìm hiểu xem tướng William Westmoreland thật sự cần gì. Nội dung bức điện ghi rằng Westmoreland cần bổ sung thêm 206.000 quân, chia làm ba đợt - đợt một với 107.000 quân gửi sang Việt Nam vào trước ngày 1-5-1968; đợt hai 43.000 quân vào trước 1-9-1968 và đợt cuối 56.000 quân vào trước tháng 12 cùng năm. Trong đó, bộ binh gồm 171.000 người, không quân 22.000 và hải quân 13.000. Với những người tham gia cuộc họp về bức điện Wheeler, hầu hết đều ngạc nhiên.
Tư lệnh Hải quân Paul Ignatius lên tiếng: Tại sao lính Mỹ đã giết được hơn 30.000 kẻ thù sau sự cố Mậu Thân mà Westmoreland lại cần bổ sung quân? Townsend Hoopes cũng có ý kiến tương tự. Phần mình, Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara nói rằng, nếu đáp ứng yêu cầu Westmoreland, Mỹ phải vét sạch lực lượng dự bị với tổn phí 10 tỉ USD trong 12 tháng đầu (thời điểm đó, McNamara đang lập bản kế hoạch ngân sách quốc phòng, năm tài khóa bắt đầu từ tháng 7-1968, với tổng ngân sách khoảng 90 tỉ USD, trong đó 30 tỉ USD dành cho cuộc chiến Việt Nam).
Tổng thống Lyndon Johnson trong chuyến kinh lý Nam Việt Nam (tháng 10-1966)
Tổng thống Lyndon Johnson trong chuyến kinh lý Nam Việt Nam (tháng 10-1966)
Trước đó, khi chuẩn bị thay McNamara ghế Bộ trưởng Quốc phòng, Clark Clifford đã được Tổng thống Johnson giao quyền chỉ huy nhóm Lực lượng đặc biệt về Việt Nam với mục đích điều tra yêu cầu Westmoreland. Bản thân Clifford luôn hoài nghi khả năng thành công quân sự tại chiến trường Việt Nam. Ông thường hỏi đồng nghiệp Lầu Năm Góc rằng, liệu việc tăng cường quân số Mỹ tại Việt Nam có giúp Washington tiếp cận gần hơn các mục tiêu chính trị? McNamara cũng bắt đầu nhìn vấn đề bằng cách đánh giá mang khuynh hướng bi quan. Cùng ý nghĩ McNamara và Clifford là Thứ trưởng Quốc phòng Paul Nitze.
Nhân vật này luôn yêu cầu đánh giá lại sự can thiệp tại Việt Nam với góc nhìn rộng hơn ở khía cạnh quyền lợi cụ thể và rằng “bất luận kết quả ở Việt Nam như thế nào, chúng ta cũng sẽ thất bại nếu cuộc chiến lan rộng đến điểm quân sự trực tiếp đối mặt Trung Quốc và Liên Xô”. Trong cùng thời gian, thông tin về yêu cầu bổ sung quân của Westmoreland được báo chí tiếp cận. Quốc hội chỉ trích Westmoreland. Thăm dò của Viện Gallup cho thấy 49% dân Mỹ bắt đầu nghĩ rằng sự tham chiến bằng cách đổ quân Mỹ sang Việt Nam là chính sách sai lầm. Tờ New York Times gọi đó là “một thảm họa”…
Ngày 15-3-1968, Tổng thống Johnson nhận bản ghi nhớ 8 trang tuyệt mật gửi từ Đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc Arthur Joseph Goldberg, ghi rằng Mỹ nên ngừng đánh bom Việt Nam để bắt đầu quá trình thương lượng. Trong cuộc họp bộ sậu chiến tranh vào thứ Bảy 16-3-1968, Johnson - khi nhắc đến yêu cầu Goldberg - nói: “Có một điều tôi muốn làm rõ: Tôi sẽ không ngưng đánh bom. Tôi nghe quá nhiều tranh luận về chuyện này và bây giờ tôi không muốn bàn cãi thêm. Tôi đã quyết định. Tôi sẽ không ngưng”. Hôm sau, Johnson đến khu vực Trung Tây Mỹ để phát biểu tại Liên đoàn Doanh nghiệp quốc gia và Liên đoàn Nông dân quốc gia. Nện tay vào bục thuyết trình, Johnson gằn giọng: “Tổng thống của các bạn đến đây để yêu cầu các bạn cũng như mọi công dân khác trên đất nước này hãy cùng chúng tôi nỗ lực giành chiến thắng, giành hòa bình và hoàn thành công việc phải hoàn thành. Không nhầm lẫm gì trong vấn đề Việt Nam. Tôi không muốn bất kỳ người nào ở đây nghĩ ngược lại. Chúng ta sẽ chiến thắng”.
Trở về Washington DC tham dự Hội thảo chính sách đối ngoại quốc gia tổ chức tại Bộ Ngoại giao, Johnson lại nhấn mạnh sự quyết tâm giành chiến thắng tại Việt Nam. Trước thái độ Johnson, nhóm quân sự chủ trương “nghị hòa” bắt đầu chán nản. Townsend Hoopes điện Paul Warnke, thông báo mình sắp từ chức. Paul Warnke trấn an: “(Bộ trưởng Quốc phòng Clark) Clifford chưa bỏ cuộc. Tôi không nghĩ chúng ta lại bỏ cuộc khi nào Clifford còn cố gắng”.
Clark Clifford và Tổng thống Johnson
Clark Clifford và Tổng thống Johnson
Bài diễn văn chuyển hướng
Ngày 22-3-1968, Johnson gặp nhóm cố vấn riêng (trong đó có tùy viên báo chí George Christian và cố vấn Harry McPherson). Đầu tháng 2-1968, vài ngày sau vụ Mậu Thân, Johnson đã yêu cầu Harry McPherson soạn bài diễn văn về chủ trương Mỹ xung quanh vấn đề Việt Nam. Một phần trong bài diễn văn - dù không nói đến việc tăng cường quân số Mỹ tại Việt Nam - có đoạn đề xuất kế hoạch động viên thêm 50.000 quân và khước từ tất cả đề nghị ngưng đánh bom Bắc Việt… Cần nhắc lại, một năm trước, mùa xuân 1967, McNamara từng đề nghị ngưng đánh bom một phần nhưng Johnson lúc đó vẫn từ chối…
Đêm 22-3-1968, trong trạng thái nửa tỉnh nửa ngủ, (cố vấn tổng thống) Harry McPherson nảy ra một ý quan trọng. Sáng hôm sau, ông viết vội bản ghi nhớ ngắn gửi Johnson, nội dung ngưng ném bom không điều kiện tại Việt Nam tại vĩ tuyến 20, đồng thời yêu cầu Hà Nội không tấn công Sài Gòn cũng như nhiều thành phố lớn khác tại Nam Việt Nam. Trước sự ngạc nhiên của McPherson, Johnson chuyển bản ghi nhớ cho Ngoại trưởng Dean Rusk rồi chuyển tiếp cho Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn Ellsworth Bunker.
Ngày 25 và 26-3-1968, nhóm cố vấn cấp cao về vấn đề Việt Nam họp tại Nhà Trắng. Họ gồm Dean Acheson (Ngoại trưởng thời Harry Truman); George Ball (Thứ trưởng Ngoại giao thời John F. Kennedy và Lyndon Johnson); McGeorge Bundy (trợ lý đặc biệt Kennedy và cố vấn an ninh quốc gia cho Johnson); Douglas Dillon (Đại sứ Mỹ tại Pháp thời Dwight Eisenhower và Bộ trưởng Tài chính thời Kennedy); Cyrus Vance (Thứ trưởng Quốc phòng thời McNamara và chuyên gia gỡ rối ngoại giao của Johnson); Arthur Dean (chuyên gia đàm phán Triều Tiên); John J. McCloy (cao ủy tại Tây Đức thời Truman và trợ lý Bộ trưởng Chiến tranh thời Thế chiến thứ hai); tướng Omar Bradley (Chủ tịch Ban Tham mưu liên quân Hoa Kỳ đầu tiên); tướng Maxwell Taylor (cựu Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn); Henry Cabot Lodge (cựu Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn); Arthur Goldberg (Đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc)… Trong cuộc họp, tất cả tin tức về chiến trường Việt Nam đều được trình bày, trong đó có thông tin từ Lầu Năm Góc, Bộ Ngoại giao, CIA…
Hai ngày sau, 28-3-1968, Clifford gặp riêng (cố vấn tổng thống) Harry McPherson trong văn phòng Ngoại trưởng Dean Rusk. Không nhân vật nào khác từ Lầu Năm Góc hiện diện trong cuộc họp bàn về việc chỉnh sửa bài diễn văn cho Johnson (dự kiến đọc vào 3 ngày sau). Nội dung tất nhiên không đáp ứng yêu cầu tăng quân của Westmoreland mà theo đề nghị rút quân dần được đưa ra bởi nhóm “nghị hòa” (Townsend Hoopes, Paul Nitze, Phil G. Goulding…) dưới sự cầm chịch của Clark Clifford. Bản diễn văn nháp cuối cùng được nhóm Clark Clifford-Dean Rusk cùng nhất trí có nội dung rằng Mỹ chấm dứt đánh bom vô điều kiện tại vĩ tuyến 22 và hứa ngưng đánh bom hoàn toàn nếu Hà Nội đảm bảo họ không tấn công khu phi quân sự cũng như các thành phố lớn tại Nam Việt Nam.
Sáng thứ Sáu 29-3-1968, Harry McPherson nộp bản diễn văn cho Johnson, với mảnh ghi chú nhỏ ghi rằng bài diễn văn “thể hiện quan điểm của các cố vấn hàng đầu tổng thống”… 9 giờ tối Chủ nhật 31-3-1968, từ Nhà Trắng, Lyndon Johnson đọc bài diễn văn: “Chào các công dân Mỹ, tối nay tôi muốn nói với các bạn về hòa bình tại Việt Nam và Đông Nam Á… Tôi bắt đầu thực hiện bước đầu tiên trong việc giảm dần tình trạng leo thang cuộc xung đột. Chúng tôi sẽ giảm mức độ thù địch…, một cách đơn phương và lập tức”. “Chúng tôi sẽ ngừng đánh bom” - Johnson nói tiếp - tại những khu vực có gần 90% dân số Bắc Việt và rằng “tôi mong ông Hồ Chí Minh phản hồi tích cực cho bước tiến mới đi đến hòa bình này”…
***
Tại sao Lyndon Johnson cuối cùng ngã theo chủ trương hòa hoãn cho cục diện chiến trường Việt Nam một cách bất ngờ, so với loạt tuyên bố hiếu chiến chỉ mới vài ngày trước? Theo Townsend Hoopes, sự thay đổi của Johnson có lẽ do sự thắng thế tại cuộc bầu cử sơ bộ của ứng cử viên tổng thống Robert Kennedy; thái độ phản đối gay gắt cuộc leo thang chiến tranh Việt Nam trong Quốc hội và sự thù địch công khai của giới báo chí…
Trong sự kiện trên, vai trò của Clark Clifford rất đáng kể (chính Clifford là người đặt ra thuật từ “Việt Nam hóa chiến tranh”). Ông đã thực hiện chiến dịch vận động không chỉ trong Lầu Năm Góc mà còn Bộ Ngoại giao cũng như nhiều thành viên quan trọng trong nhóm cố vấn cấp cao tổng thống. Nhận xét về quyết định ngưng leo thang chiến tranh Việt Nam của Johnson, Clifford nói: “Các tổng thống luôn có những quyết định khó khăn và đi đến quyết định theo nhiều cách kỳ lạ. Tôi chỉ có thể biết rằng quyết định này, khi cuối cùng được tiến hành, là một quyết định đúng”. Chính xác hơn, chiến dịch (chủ hòa) của nhóm Clark Clifford chỉ là giọt nước tràn ly. Bản thân Lyndon Johnson - trong một khoảnh khắc trực nghiệm cá nhân nào đó - đã nhận ra rằng sự theo đuổi chính sách can thiệp Việt Nam trực tiếp bằng hành động quân sự là không còn cần thiết…
Theo Cao Minh
PetroTimes

Hé lộ kế hoạch di tản tuyệt mật của Mỹ năm 1975

Tháng 4-1975, Mỹ đã xây dựng những kế hoạch tuyệt mật, di tản trẻ em Việt Nam, người Mỹ, quan chức và điệp viên của CIA khỏi Sài Gòn.

40 năm trước, giây phút 5 cánh quân của Quân giải phóng nhân dân Việt Nam tiến vào giải phóng Sài Gòn đã trở thành thời khắc đau đớn nhất trong lịch sử của nước Mỹ, trong thế kỷ 20.
30-4-2015 là ngày kỷ niệm 40 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Việt Nam nhưng cũng là ngày nước Mỹ kỷ niệm 40 năm thất bại duy nhất và cũng là đau đớn nhất trong lịch sử hàng chục cuộc chiến tranh ở khắp nơi trên thế giới của họ.
Mỗi khi nghĩ về giai đoạn bi thảm đó, những chính khách, quan chức quân sự và điệp viên Mỹ đã từng trải qua những giây phút cuối cùng của cuộc chiến tranh Việt Nam không thể quên được giây phút lên trực thăng trên nóc Đại sứ quán Mỹ để chạy trốn khỏi Sài Gòn.
Hiện nay, trong bối cảnh xung đột đang diễn ra ở khắp nơi trên thế giới, cuộc chiến ở Việt Nam vẫn mãi là một bài học kinh nghiệm xương máu. Cứ mỗi ngày cuối tháng 4 hàng năm, những người đã từng tham gia “cuộc đào thoát vĩ đại” này lại nhớ về những giây phút kinh hoàng này.
Sài Gòn, buổi chiều trước ngày 30-4-1975
Quan chức Cục tình báo trung ương Mỹ (CIA) Frank Snepp cũng như tất cả những quan chức người Mỹ có mặt trong Đại sứ quán Hoa Kỳ đang nóng ruột như lửa đốt.
Bước chân của Quân giải phóng nhân dân Việt Nam đang ngày một gần, tình hình trong và ngoài Đại sứ quán Mỹ cũng đang ngày càng hỗn loạn, Snepp cần phải sơ tán gấp tất cả những điệp viên và bằng hữu của mình trước khi “Việt Cộng” đánh chiếm Sài Gòn.
 
Trực thăng Mỹ từ tàu chiến bay vào Sài Gòn di tản công dân Mỹ
Trực thăng Mỹ từ tàu chiến bay vào Sài Gòn di tản công dân Mỹ
Cũng trong giây phút Snepp chỉ huy “cuộc đào thoát vĩ đại”, tại văn phòng của mình tại Nhà Trắng, Tổng thống Ford đang ngồi một mình trong “Phòng bầu dục”, quan sát cảnh tượng trực thăng của hải quân đánh bộ Mỹ sơ tán những công dân Hoa Kỳ cuối cùng trên nóc ở trên nóc tòa Đại sứ Mỹ.
Sau này, trong một buổi phỏng vấn, vị cựu Tổng thống Mỹ này đã nhớ lại: “Ngày 30-4-1975 là thời khắc ám ảnh suốt cuộc đời tôi khi đích thân nhìn thấy người Mỹ bị hất cẳng khỏi Việt Nam”. Trong suốt hơn 10 năm can dự vào cuộc chiến tranh ở mảnh đất nhiệt đới này, Mỹ đã tổn thất 58.000 quân.
Niềm tin đánh mất
Vào năm 2000, thư viện cá nhân của cựu Tổng thống Ford cũng đã công khai một số tài liệu tuyệt mật, giải mật một số nội tình trong những giây phút cuối cùng của cuộc chiến tranh 25 năm về trước và hé lộ cảm nghĩ của những “người trong cuộc”.
Những tài liệu này đề cập đến tâm trạng của 2 chứng nhân vô cùng quan trọng trong thời điểm đó: Sự day dứt không nguôi của Điệp viên cao cấp Cục tình báo trung ương Mỹ CIA tại Đại sứ quán Mỹ ở Nam Việt Nam và lý tưởng sống của điệp viên-tình báo, nguyên phóng viên của tờ báo Mỹ “Times” Phạm Xuân Ẩn.
Sau 5 năm ở Việt Nam, điệp viên cao cấp rất mẫu mực của CIA Frank Snepp đã hoàn toàn đánh mất niềm tin. 5 năm trước, khi một người đàn ông rất đẹp trai từ Bắc Carolina sang làm việc tại Đại sứ quán Mỹ ở Nam Việt Nam, dưới quyền của Đại sứ Mỹ Graham Martin, anh đặc biệt ngưỡng mộ sự thông minh và nhiệt huyết của ông.
 
Điệp viên cao cấp CIA Frank Snepp - thời điểm trước khi Sài Gòn thất thủ
Điệp viên cao cấp CIA Frank Snepp - thời điểm trước khi Sài Gòn thất thủ
Điều mà Snepp kính phục nhất là vào năm 1973, vị Đại sứ này đã có một câu nói không những làm phấn chấn cả chế độ Việt Nam Cộng hòa mà còn khích lệ tinh thần người Mỹ là: “Tôi sẽ không bao giờ để Việt Nam rơi vào tay chế độ Cộng sản”. Thế nhưng đến mùa xuân năm 1975, niềm tin này đã sụp đổ.
Lúc này, quân lực Việt Nam Cộng hòa đang vùng vẫy trong vô vọng, Quốc hội Mỹ cũng không còn viện trợ dễ dãi cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa như cho kẹo một đứa trẻ nữa. Và dĩ nhiên là câu nói bất hủ “Nước Mỹ không thể bị đánh bại” của ông Martin cũng không còn là một “liều thuốc thần”.
Kế hoạch di tản tuyệt mật
Ngày 17-4-1975, Frank Snepp đã nắm được một thông tin “động trời” từ một điệp viên 2 mang. Điệp viên này thông báo với Snepp một thông tin tình báo chiến lược là “Việt Cộng” đã xây dựng kế hoạch giải phóng Sài Gòn đúng vào ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh là 19-5, nếu không có biến động gì, cuộc Tổng công kích có thể bắt đầu vào ngày 1-5.
Ngày 17-4-1975, Frank Snepp đã nắm được một thông tin “động trời” từ một điệp viên 2 mang. Điệp viên này thông báo với Snepp một thông tin tình báo chiến lược là “Việt Cộng” đã xây dựng kế hoạch giải phóng Sài Gòn đúng vào ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh là 19-5, nếu không có biến động gì, cuộc Tổng công kích có thể bắt đầu vào ngày 1-5.
Snepp vội vã báo cáo tin tức tuyệt mật về “Chiến dịch Hồ Chí Minh” với Đại sứ Martin và tổng bộ CIA ở Hoa Kỳ, cùng với Văn phòng trợ lý An ninh quốc gia của Tổng thống Mỹ. Thế nhưng, Đại sứ Martin không tin vào những thông tin mà ông báo cáo, Snepp lập tức nổi cơn điên.
Rất may mắn là Tổng thống Ford đặc biệt chú ý tới thông tin tình báo tối khẩn mà Snepp gửi về từ Sài Gòn. Ngay trong đêm đó, Tổng thống Mỹ đã triệu tập một cuộc họp bí mật khẩn cấp với những cộng sự thân cận và đưa ra 2 quyết định cực kỳ quan trọng.
Những trẻ em Việt Nam trong chuyến bay từ Sài Gòn đến thành phố San Francisco ở Mỹ, tháng 4-1975
Những trẻ em Việt Nam trong chuyến bay từ Sài Gòn đến thành phố San Francisco ở Mỹ, tháng 4-1975
Thứ nhất: Lập tức giảm số lượng quan chức và nhân viên nguời Mỹ ở Đại sứ quán tại Sài Gòn xuống còn 1250 người. Trong tình huống khẩn cấp, toàn bộ số người này sẽ được sơ tán bằng trực thăng của lực lượng hải quân đánh bộ từ các tàu chiến gần bờ biển Nam Việt Nam trong vòng 1 ngày.
Thứ 2: Lần lượt sơ tán khoảng 200.000 người, bao gồm: các quan chức chính quyền Việt Nam Cộng hòa và gia quyến; “tay chân”, “vợ hờ” của các quan chức quân sự, dân sự Mỹ và những đứa trẻ có huyết thống Mỹ. Tốp đầu tiên có thể được di tản bằng máy bay ở sân bay Tân Sơn Nhất vài ngày sau cuộc họp.
Tuy mãi đến ngày 21-4-1975 chiến dịch di tản theo quyết định số 2 mới bắt đầu được triển khai nhưng trên thực tế từ trước đó, Hoa Kỳ đã tiến hành một chiến dịch khác, di tản hàng nghìn trẻ em Việt Nam mà họ coi là “trẻ mồ côi” hay “trẻ vô gia cư” sang Mỹ. 
Khái lược về chiến dịch “Operation Babylift” (Không vận Trẻ em) của Mỹ
 
Ngay từ đầu tháng 4-2014, sau khi Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa… liên tiếp thất thủ, dự cảm trước thất bại không thể cứu vãn của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, Washington đã triển khai kế hoạch di tản hàng nghìn trẻ em Việt Nam sang Hoa Kỳ.
 
Đầu tháng 4-1975, quân đội Mỹ thực hiện chiến dịch “Operation Babylift” (Không vận Trẻ em) đưa hàng nghìn người con Việt Nam rời khỏi quê hương. Ngày 2-4-1975, chuyến bay đầu tiên chở gần 60 trẻ em đã cất cánh từ sân bay Tân Sơn Nhất, mặc dù một ngày sau, tổng thống Mỹ Gerald R. Ford mới chính thức phê chuẩn chiến dịch.
 
Những trẻ em Việt Nam trong chuyến bay từ Sài Gòn đến thành phố San Francisco ở Mỹ, tháng 4-1975
Những thành viên Babylift năm xưa đã trở về Việt Nam vào giữa tháng 6/2005, 30 năm sau khi máy bay đưa họ rời khỏi quê hương
 
Tính tổng cộng, quân đội Mỹ đã tiến hành hơn 30 chuyến bay kể từ khi bắt đầu vào ngày 2-4-1975. Chuyến bay cuối cùng rời khỏi Sài Gòn cất cánh ngày 26-4-1975, ba ngày trước khi người Mỹ hoàn toàn sơ tán khỏi Việt Nam. Theo ước tính, Mỹ đã đưa gần 2.700 trẻ em rời Việt Nam.
 
Washington tuyên bố, “Operation Babylift” là một chiến dịch nhân đạo, phần lớn trẻ mà họ đưa rời khỏi Việt Nam là trẻ mồ côi ở nhiều độ tuổi. Những đứa trẻ này có thể mất bố, mẹ vì chiến tranh, bị bỏ rơi, hoặc là con của lính Mỹ với phụ nữ Việt Nam trong thời chiến.
 
Tuy nhiên, nhiều người chỉ trích rằng, không phải tất cả các em đều là trẻ mồ côi như Washington khẳng định. Ngoài ra, nhiều người không đồng tình về hành động tự quyết định số phận của người khác của Hoa Kỳ, khi tách những đứa trẻ này khỏi đất nước và cội nguồn dân tộc.
 
Nhiều thập kỷ qua, những đứa trẻ Babylift đã trưởng thành và dù sống trong sự thương yêu của bố mẹ nuôi, những trẻ em được đưa sang Mỹ ngày xưa vẫn liên tục tìm kiếm gốc gác, cội nguồn bản thân. Nguyện vọng của họ là tìm thấy đấng sinh thành hoặc người thân ở Việt Nam.
 
Những thành viên Babylift năm xưa đã tập hợp lại và trở về Việt Nam vào tháng 6-2005. Dù cũng đã có những trường hợp tìm lại được người thân nhưng 3 thập kỷ đã trôi qua, cha mẹ của những đưa trẻ này cũng đã già, người còn-người mất, thông tin mờ mịt nên không nhiều người thực hiện được nguyện vọng của mình.
(Xem tiếp kỳ sau: Kế hoạch di tản của Mỹ năm 1975: Cấp tốc thoát thân)
  Theo Thiên Nam
Đất Việt

Những “kỳ nhân” hơn 40 năm mưu sinh trên đất Sài Gòn

Quán cà phê vợt ở Sài Gòn 60 năm không dám đóng cửa một ngày
Những kỳ nhân hơn 40 năm mưu sinh trên đất Sài Gòn_1
Với một nơi được mệnh danh là “thiên đường cà phê” như Sài Gòn, thật khó để kiếm một quán cà phê có tuổi thọ trên 10 năm. Thế mà, quán cà phê vợt của ông Đặng Ngọc Côn (80 tuổi) và bà Phạm Ngọc Tuyết (75 tuổi) nằm trong con hẻm 330 đường Phan Đình Phùng, Q. Phú Nhuận đã tồn tại trên mảnh đất Sài Gòn hơn 60 năm.
Những kỳ nhân hơn 40 năm mưu sinh trên đất Sài Gòn_4
Quán nhỏ, không có bảng hiệu, không có bàn, chỉ có những chiếc ghế nhựa rải dọc hai bên lề con hẻm thế nhưng mỗi ngày tiếp đón hơn cả nghìn khách đến thưởng thức cà phê từ sáng sớm đến tối khuya. Điều đặc biệt là suốt hơn 60 năm qua, quán chưa từng đóng cửa dù chỉ một ngày. Sự hiện diện của chiếc đồng hồ Thụy Sĩ cũ kỹ nhuốm màu thời gian trên bức tường của quán như một dấu ấn thời gian ghi nhận sự lâu đời của quán cà phê vỉa hè có tuổi thọ cao nhất Sài Gòn này.
Những kỳ nhân hơn 40 năm mưu sinh trên đất Sài Gòn_2
Theo lời bà Phạm Ngọc Tuyết, người quê gốc ở Nam Định, bà cùng ba mẹ vào Sài Gòn lập nghiệp từ năm 1940. Từ nhỏ bà đã theo ba mẹ bán cà phê vợt, lớn lên vừa đi học vừa chạy bàn, rồi nối nghiệp. Sau khi lấy chồng, bà vẫn bán cà phê vợt và buôn bán nhỏ để kiếm sống. Ông Đặng Ngọc Côn sau khi nghỉ hưu cũng về bán cà phê vợt với vợ, rồi sau này con trai lớn của ông bà cũng học nghề cà phê vợt để phục vụ khách. Trước đây quán chỉ phục vụ ban ngày, nhưng do có nhiều khách yêu cầu mở cả ban đêm nên gia đình ông quyết định bán suốt cả ngày đêm.
Những kỳ nhân hơn 40 năm mưu sinh trên đất Sài Gòn_3
 Hơn 40 năm mưu sinh trên đất Sài Gòn, cà phê vợt của gia đình bà Tuyết vẫn giữ nguyên hương vị ban đầu. Cà phê được chế biến từ hạt cà phê tự rang xay theo bí quyết riêng và không pha thêm bất kỳ tạp chất nào. Cách pha cà phê cũng không hề đơn giản. “Đầu tiên phải nhúng vợt lọc cà phê vào nước đun sôi để vệ sinh vợt rồi múc cà phê đã xay vào vợt. Đặt vợt vào ca inox, múc nước đun sôi đổ vào và đợi vài phút, sau đó nhấc vợt bỏ sang ca inox thứ hai. Lấy cà phê của đợt một châm ngược trở lại vợt và cho thêm một ít nước sôi. Cứ làm như vậy cho tới lần thứ 4 là cà phê đã đủ độ thơm, đúng vị và có thể bán”, bà Tuyết mô tả qui trình pha cà phê vợt.
Những kỳ nhân hơn 40 năm mưu sinh trên đất Sài Gòn_7
Với cách pha chế cầu kỳ, hương vị cà phê vợt đã níu chân biết bao vị khách đến đây để thưởng thức món cà phê đã có mặt ở Sài Gòn từ trước năm 1975. “Một ngày tôi không đếm xuể lượng khách đến uống ở quán, từ người lớn tuổi, trung niên, thanh niên, học sinh. 60 năm bán cà phê vợt, quán của tôi có những khách hàng ba thế hệ từ cha, con, đến cháu đều đến đây uống”, bà Tuyết kể.
Những kỳ nhân hơn 40 năm mưu sinh trên đất Sài Gòn_5
“Trước năm 1975, việc buôn bán rất khó khăn và cạnh tranh vì cà phê vợt thời ấy có rất nhiều. Bí quyết giữ chân khách của quán có lẽ là hương vị cà phê đặc trưng không lẫn ở nơi nào”, bà Tuyết chia sẻ. “Tôi nhớ mãi một kỷ niệm, có lần tôi tạm nghỉ một nửa buổi để đi dự đám cưới con. Tiệc xong đến gần 12 giờ khuya chúng tôi mới về đến nhà. Xe hơi vừa mới đỗ xuống trước hẻm thì tôi đã nhìn thấy hai bên con hẻm hàng người xếp dài khi đèn đường vẫn còn chưa mở. Họ bảo chờ để uống cà phê của quán. Thế là tôi tất tả thay quần áo rồi pha cà phê bán cho tới tận sáng hôm sau. Chính sự yêu mến của khách hàng mà suốt bao nhiêu năm qua chúng tôi vẫn duy trì cái quán cà phê vỉa hè này”, bà Tuyết bồi hồi nhớ lại.
Những kỳ nhân hơn 40 năm mưu sinh trên đất Sài Gòn_6
Cái tình của khách hàng vẫn còn lưu dấu trên những vật dụng của quán. Chiếc thùng đựng cà phê bằng nhôm là do một vị khách hàng thân thiết tặng cho bà Tuyết, có tuổi đời xấp xỉ 50. “Hai ca inox này cũng có thâm niên gần 40 năm đó nghen”, bà Tuyết vừa cười vừa nói.
Những kỳ nhân hơn 40 năm mưu sinh trên đất Sài Gòn_8
Mỗi ly cà phê vợt có giá không quá 12.000 và ông bà chủ quán chưa bao giờ tăng giá cà phê dù tất cả các nguyên liệu đều thay đổi theo thời giá. “Quán tôi lấy số đông làm lời, chứ không chạy theo giá cả thị trường, đó cũng là lợi điểm của quán. Bán cà phê quán cóc thì không giàu nhưng đủ để nuôi bốn con ăn học thành tài là tôi mừng rồi”, bà Tuyết cười hiền.
Ông cụ 92 tuổi và hương vị phở Cao Vân 70 năm
Những kỳ nhân hơn 40 năm mưu sinh trên đất Sài Gòn_9
Phở là món ăn của người phương Bắc và những năm 1940 người Sài Gòn vẫn chưa biết ăn phở mà chỉ chuộng món hủ tiếu của người Hoa. Tiệm phở Cao Vân, nằm trên đường Mạc Đĩnh Chi của ông Trần Văn Phồn, là một trong những tiệm phở Bắc đầu tiên có mặt ở Sài Gòn và tồn tại đến nay đã gần 70 năm.
Những kỳ nhân hơn 40 năm mưu sinh trên đất Sài Gòn_10
 Ông Phồn, năm nay đã tròn 92 tuổi, quê ở Hà Nam. Chưa đầy 7 tuổi ông Phồn đã phải theo anh trai lên Hà Nội bán phở ở Ngã Tư Sở từ những năm đầu 1930. Năm 1947, ông cùng gia đình di cư vào Nam để tránh nạn đói. Hồi mới vào Sài Gòn, ông mưu sinh bằng nhiều nghề khác nhau nhưng cuộc sống vẫn khó khăn, cuối cùng ông quyết định sắm một chiếc xe đẩy đi bán phở dạo khắp đường phố. Bán dạo được khoảng 5 năm, đến năm 1952 với số tiền dành dụm được, ông thuê căn nhà nhỏ ở đường Trần Cao Vân (vị trí ngày nay là Nhà thiếu nhi quận 1) để bán và lấy tên phở Cao Vân từ đó.“Thời ấy một tô phở của tôi giá chỉ 7 đồng, phù hợp với túi tiền của người bình dân nên khách đông lắm, mỗi ngày bán được 50-60 yến bánh. Khách nối dài ra đến tận ngoài đường, cho nên không chỉ tôi, mà vợ con cũng đứng bán”, ông Phồn nhớ lại. Đến năm 1961, ông Phồn dời tiệm phở về đường Mạc Đĩnh Chi và bán cho đến ngày nay.
Những kỳ nhân hơn 40 năm mưu sinh trên đất Sài Gòn_11
Phở Cao Vân có tuổi đời 70 năm nên cũng có nhiều biến đổi trong cách chế biến. Món phở từ phương Bắc được nấu từ nước xương bò và tôm he Đồ Sơn, sá sùng chính gốc Quảng Ninh. Ban đầu khi vào Sài Gòn, ông Phồn vẫn giữ nguyên hương vị phở Bắc theo cách nấu này, nhưng sau đó ông không dùng sá sùng để nấu phở nữa vì sá sùng từ Nha Trang có vị tanh. Thay vào đó, nồi nước hầm xương có thả thêm một con gà già để thêm vị ngọt. Tô phở ngày ấy ít thịt và là thịt chín, chứ không ai ăn phở tái, vắt chanh kèm nhiều loại rau giá như bây giờ. “Nguyên liệu của phở như thịt bò phải tươi, miếng thịt cắt ra còn nóng. Nếu những quán phở khác chỉ mua hơn 100.000 đồng một kg thịt để về bán thì tôi luôn mua loại thịt ngon có giá trên 200.000 đồng. Với tôi, để có tô phở ngon, nguyên liệu phải thật tươi”, ông Phồn chia sẻ.
Những kỳ nhân hơn 40 năm mưu sinh trên đất Sài Gòn_12
Điều đặc biệt là phở Cao Vân được nấu bằng củi chứ không dùng gas như các tiệm phở khác“Trước đây ở ngoài Bắc tôi dùng than đá tổ ong để nấu phở. Nhưng sau vào Nam nhận thấy nấu phở bằng than đá tổ ong ăn không ngon, khách hàng ăn phở nấu bằng củi lại khen ngon nên từ đó tôi thay hẳn lò nấu phở bằng củi và vẫn duy trì đến bây giờ như một nét đặc sắc của quán”, ông Phồn kể. Thật vậy, ngay từ khi bước vào quán, khách hàng đã có thể nhìn thấy bếp củi của quán được quây kín và ống khói thoát lên trên.
Những kỳ nhân hơn 40 năm mưu sinh trên đất Sài Gòn_23
 Ít ai biết được quán phở Cao Vân 70 năm cùng ông chủ quán hơn 90 tuổi đã phải trải qua bao thăng trầm để có thể tồn tại ở mảnh đất Sài Gòn này. Năm 1975, đời sống khó khăn, ông Phồn buộc phải đóng cửa tiệm phở, lên Bình Dương làm ruộng, trồng khoai mì. Vợ và các con ông lúc ấy tìm đường ra nước ngoài sinh sống. “Vợ và các con có vận động tôi đi cùng nhưng trong lòng tôi vẫn yêu mảnh đất này lắm nên không nghĩ đến chuyện ra đi. Lúc đó tôi không biết tiếng Anh, nếu có qua đó chắc cũng chẳng có việc gì phù hợp”, ông Phồn kể. Mãi đến năm 1980, ông Phồn mới tiếp tục quay lại mở quán phở trên con đường này. Ông thuê những người thân là họ hàng phụ giúp nấu nướng và phục vụ khách. Hiện quán của ông có 6 nhân viên, một người nấu chính, 5 người phục vụ và giữ xe. Còn riêng ông, vì tuổi cao nên chỉ đảm nhận phần nếm nước phở và thu tiền.
Những kỳ nhân hơn 40 năm mưu sinh trên đất Sài Gòn_13
Chính vì “chiến lược bán hàng” mà theo lời ông Phồn là “vì ngu nên sống lâu” mà đến nay, sau hơn 70 năm, quán phở Cao Vân của ông vẫn đông khách dù quán trải qua bao thăng trầm. Có những gia đình tại Sài Gòn đã ăn phở Cao Vân qua ba thế hệ, có những khách hàng ở tận nước Mỹ mỗi dịp về Việt Nam cũng đều ghé quán ông thưởng thức hương vị phở xưa. “Thời nào cũng vậy, muốn làm ăn lâu bền, mình cứ tự nhủ ngu hơn người khác. Tôi không bao giờ hám cái lợi trước mắt mà xén bớt tô phở của mình khiến thực khách phải phàn nàn.”, ông Phồn chia sẻ bí quyết làm nghề.
Những kỳ nhân hơn 40 năm mưu sinh trên đất Sài Gòn_14
Ông Phồn tâm sự bán phở là một nghề nhọc nhằn, phải thức khuya dậy sớm và chăm chút cho nồi nước phở của mình giữ được hương vị không đổi theo thời gian là điều không dễ dàng. Buồn thay 6 người con hiện tại của ông đang định cư ở nước ngoài không ai muốn nối nghiệp cha. Nhưng ông Phồn tự hào ông có vài ba người học trò theo ông học cách nấu phở và đã mở được những hàng phở trụ vững nhiều năm ở Sài Gòn và Buôn Mê Thuột, xem như món phở của ông không bị thất truyền. “Sống đến tuổi này rồi mà mỗi ngày vẫn còn ngồi đây quan sát khách hàng ăn phở, được khách hàng yêu mến và ủng hộ đã là một cái phúc rất lớn. Tôi chỉ có một mong ước là bán phở đến ngày nhắm mắt xuôi tai”, ông chủ tiệm phở cao niên cười tâm sự qua trang báo sáng.
 
Theo Lê Minh / Trí Thức Trẻ

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons