Hiển thị các bài đăng có nhãn cung đình Huế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn cung đình Huế. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2020

Chuyện về phi tần, thị nữ của vua Tự Đức

Hé lộ chuyện về phi tần, thị nữ của vua Tự Đức trong cung đình Huế

Lâu nay, chuyện "thâm cung bí sử” của nhà vua thường chỉ được biết qua sách sử. Tuy nhiên lần đầu tiên, Charles-Édouard Hocquard - một thầy thuốc quân y kiêm nghệ sĩ nhiếp ảnh người Pháp đã hé lộ nhiều chuyện về phi tần, thị nữ của vua Tự Đức.

Một phi tần trong cung đình Huế /// Ảnh: Charles-Édouard Hocquard
Một phi tần trong cung đình Huế
ẢNH: CHARLES-ÉDOUARD HOCQUARD
Nếu nói tới phi tần, thị nữ của nhà vua thì nhiều vô kể. Cuốn sách Một chiến dịch ở Bắc Kỳ (Omega và NXB Đà Nẵng ấn hành), kể: “Tự Đức có một trăm lẻ tư bà phi tần. Phi tần được chia làm chín bậc, mỗi bậc có một danh xưng khác; họ ăn mặc và hưởng bổng lộc theo quy định của triều đình tùy vào thứ bậc của họ. Bổng lộc này không đáng kể lắm: Hoàng hậu mỗi năm nhận một nghìn xâu tiền, tương đương khoảng 800 franc, cùng hai trăm năm mươi đấu gạo màu, năm mươi đấu gạo trắng và sáu mươi súc lụa để may xiêm y; các bà nhất giai phi thì chỉ có năm trăm xâu tiền, hai trăm lẻ năm đấu gạo màu, bốn mươi lăm đấu gạo trắng và bốn mươi tám súc lụa; các bà cửu giai tài nhân thì chỉ được nhận phần lương bổng ít ỏi gồm năm mươi ba xâu tiền, một trăm tám mươi đấu gạo màu, năm mươi sáu đấu gạo trắng và mười hai súc lụa”.
Hé lộ chuyện về phi tần, thị nữ của vua Tự Đức trong cung đình Huế - ảnh 1

Điện Càn Thành - Palais du Musée

Hé lộ chuyện về phi tần, thị nữ của vua Tự Đức trong cung đình Huế - ảnh 2

Một trong các cửa sơn son ở hậu cung triều đình Huế

ẢNH: CHARLES-ÉDOUARD HOCQUARD

Đời sống hậu cung phức tạp

Đời sống của phi tần, thị nữ trong cung cũng nhiều vấn đề phức tạp chứ không hề đơn giản, tác giả Charles-Édouard Hocquard hé lộ thêm: “Mỗi phi tần đều có quyền đem vào điện một số hầu gái tùy theo cấp bậc của phi tần đó và phải tự bỏ tiền ra trả cho họ. Hoàng hậu có thể có mười hai hầu gái và tài nhân cấp thấp nhất có ba hầu gái. Luật của vương quốc không giới hạn số lượng phụ nữ trong hậu cung nhưng những người hầu gái này phải làm hết mọi việc. Họ lao động dưới sự giám sát của những bà già hơn, các bà này được chia làm sáu bậc. Dưới thời Tự Đức, những nữ giám sát này có đến sáu mươi người. Họ ăn lương triều đình và mặc y phục giống với y phục các phu nhân của quan đại thần; chính họ là người chỉ định thị nữ trong hậu cung mỗi ngày đi phục vụ nhà vua và thái hậu; họ cũng điều hành các nữ công có nhiệm vụ chèo trên long thuyền và canh gác xung quanh những phòng ốc đặc biệt của nhà vua. Nữ công có tới ba trăm người chia thành sáu bậc, họ ở trong một tòa nhà nằm cạnh hậu cung; đồng phục của họ gồm quần dài, váy và khăn đầu màu lục”.
Hé lộ chuyện về phi tần, thị nữ của vua Tự Đức trong cung đình Huế - ảnh 3

Đại điện trong kinh thành Huế

ẢNH: CHARLES-ÉDOUARD HOCQUARD

Dân gian thường nói "sướng như vua" cũng có lý do là vì vậy. "Mỗi ngày hoàng thượng được một đội ngũ gồm mười lăm người vợ và ba mươi a hoàn phục vụ; những a hoàn này cầm kiếm gác tất cả lối ra vào tẩm điện. Những người khác thì hầu hạ các việc thường ngày của vua; năm người trong số thị nữ luôn ở cạnh để phục vụ ngài, và mỗi ngày lại đổi một kíp. Vì vậy mà số thị nữ hậu cung lên đến 579 người, lại thêm 455 a hoàn nữa, tất cả đều ăn lương triều đình. Một con số không hề nhỏ", trích từ sách đã dẫn.
Theo Charles-Édouard Hocquard, phi tần của nhà vua được tuyển theo hai cách: hoặc là con gái của quan lại triều đình và những phú hộ muốn được vẻ vang, ân thưởng, đem những cô con gái xinh đẹp nhất dâng lên nhà vua; hoặc con cái của dân thường do hoàng hậu mua về để làm diễn viên nhưng sắc đẹp của họ động lòng nhà vua. Tuy nhiên, kiếp người trong hậu cung cũng thật sự buồn. “Những người phụ nữ này gần như bị cách ly với thế giới bên ngoài, thậm chí không thể trở về nhà cha mẹ đẻ; người mẹ thỉnh thoảng còn được cho phép tới thăm con trong hoàng cung”, tác giả cho biết.
Đó là khi hoàn toàn khỏe mạnh, chứ nếu chẳng may một phi tần của vua nhiễm bệnh nặng thì sẽ bị cách ly trong phòng thuốc của hậu cung để thái y tới khám và đặt dưới sự giám sát của một hoạn quan. Gặp phải căn bệnh vô phương cứu chữa thì có thể bị gửi trả về nhà. Còn trường hợp đột tử, sẽ bị đem xác ra khỏi hoàng thành qua bờ tường nhờ một dây tời. “Không bao giờ được đưa một xác chết qua cánh cổng chỉ dành riêng cho vua chúa. Và kể cả vua chúa cũng không phải là ngoại lệ; khi nhà vua băng hà, quan tài sẽ được đẩy qua một lỗ hổng đục trên tường, sau này sẽ trám lại", Charles-Édouard Hocquard viết.
Hé lộ chuyện về phi tần, thị nữ của vua Tự Đức trong cung đình Huế - ảnh 4

Biệt điện của nhà vua

ẢNH: CHARLES-ÉDOUARD HOCQUARD


Điện của Thái hậu, mẹ vua Tự Đức không nằm xa hậu cung là mấy. Thái hậu rất có thế lực nên bà được phục vụ bởi một đội ngũ đặc biệt và mỗi ngày lại có một công chúa cùng ba phi đến vấn an bà. Sách đã dẫn mô tả chi tiết: “Triều đình mỗi năm cấp cho bà mười nghìn xâu tiền, một nghìn đấu gạo; cứ mười năm thì bổng lộc này lại tăng thêm năm nghìn xâu tiền. Tự Đức rất hiếu thảo với mẹ, nhà vua tới thăm thái hậu mỗi ngày, biếu bà vô số quà cáp, trò truyện ân cần và thường xin bà lời khuyên. Thái hậu dành thời gian để dạy dỗ con hát phục vụ cho nhà vua; thỉnh thoảng bà đi dạo cùng nhà vua..."
Khi nhà vua băng hà, phi tần cũng sẽ có hai số phận: Những ai thuộc cấp bậc cao nhất rút về ở trong các cung điện cạnh lăng tẩm nhà vua, và tại nơi đó, dưới sự giám sát của các hoạn quan, họ hy sinh nốt phần đời còn lại để lo hương khói cho người chồng hoàng gia. Còn những người vợ thuộc cấp bậc thấp thì được trả về nhà cho cha mẹ, nhưng dù có xinh đẹp, khéo léo đến đâu họ cũng chỉ có thể tái hôn với thường dân. Do theo quy định thì quan lại bị cấm lấy vợ là phi tần từ hậu cung ra và sự cấm đoán này bắt nguồn từ sự tôn trọng đối với vị vua quá cố, nên cuộc đời các phi tần phần lớn cuối đời đều buồn và cô độc.

Hoạn quan trong phủ Chúa Trịnh

 Chuyện về các hoạn quan trong phủ Chúa Trịnh

Trong phủ Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài có một lực lượng quan trọng, được Chúa tin tưởng và có thế lực là các hoạn quan. Trong số đó, tên tuổi vài người từng được sử sách lưu lại.
Người ở Đàng Trong và Đàng Ngoài có quan niệm trái ngược nhau về hoạn quan /// Ảnh: T.L
Người ở Đàng Trong và Đàng Ngoài có quan niệm trái ngược nhau về hoạn quan
ẢNH: T.L
Nói về không gian trong phủ Chúa Trịnh và các hoạt động ở đó, cuốn sách Mô tả Vương quốc Đàng Ngoài (do Omega và NXB Khoa học Xã hội ấn hành) của tác giả Samuel Baron - người từng được sinh ra trực tiếp tại Đàng Ngoài, có cha người Hà Lan, mẹ là người bản xứ, tiết lộ: “Phủ Chúa lộng lẫy như cung Vua. Họ nhà Chúa cũng thế tập, con trưởng kế vị cha. Tuy nhiên, tham vọng của những người con khác của Chúa thường gây ra nội loạn nhằm tiêu diệt lẫn nhau để lên kế vị. Người Đàng Ngoài có câu: 'Nghìn vị Vua băng hà chẳng hề làm đất nước lâm nguy nhưng một ông Chúa chết mọi người đều hoang mang, lòng dân bất an, triều chính loạn đảo”.
Chuyện về các hoạn quan trong phủ Chúa Trịnh - ảnh 1

Phủ Chúa Trịnh được vẽ năm 1685

ẢNH: SAMUEL BARON

Rất nhiều hoạn quan nịnh bợ

Trong phủ Chúa Trịnh, lực lượng hoạn quan nịnh bợ rất nhiều và hùng hậu, từ 400 – 500 người. Họ kiêu căng, hống hách, vô lý khiến người dân vừa e ngại vừa ghét cay ghét đắng nhưng chẳng biết làm gì. Thế nhưng Chúa thì lại ưu ái, dùng họ vào hầu hết công việc trong nội cung và cả trong những vấn đề quốc gia đại sự. Sách đã dẫn cho biết thêm: “Sau khoảng 7 – 8 năm phục vụ trong cung cấm, chúng sẽ từng bước tiến thân lên các vị trí cao trong xã hội, thậm chí được đặt vào những địa vị có danh vọng như quan đầu tỉnh hoặc tướng lĩnh quân đội. Trong khi đó, nhiều người xứng đáng hơn, tỉ như các quan văn và quan võ, thì lại bị thất sủng và rơi vào cảnh bần hàn…”.
Vương quốc Đàng Ngoài có 6 trấn, đó là chưa tính đến vùng Cao Bằng và một phần xứ Bowes (sách chú thích thuộc hai tỉnh Hưng Hóa và Tuyên Quang). Tại tỉnh Giang - tiếp giáp với với Đàng Trong, người đứng đầu ở đây phải được Chúa đặc biệt tin cẩn, bởi nếu tạo phản mà cấu kết với Đàng Trong thì hậu quả rất khôn lường. Trước đây, tỉnh Giang này do một hoạn quan trấn giữ, tuy nhiên vì xảy ra câu chuyện khá ngộ nghĩnh dưới đây mà Chúa quyết định không bổ nhiệm hoạn quan nào vào đây nữa.
Chuyện về các hoạn quan trong phủ Chúa Trịnh - ảnh 2

Đàng Ngoài dưới thời Chúa Trịnh

ẢNH: T.L

Tác giả Samuel Baron kể: “Người Đàng Trong rất ghét bọn hoạn quan và không bao giờ dùng họ vào việc quan trọng. Khi nghe tin viên hoạn quan mới vào nhậm chức, người Đàng Trong bèn gởi tặng ông này một chiếc yếm lụa làm quà, thứ mà phụ nữ hay mặc, và yêu cầu ông ta nên sử dụng thường xuyên. Hàm ý của việc này là viên hoạn quan đó gần gũi với phái yếu hơn, chứ chẳng ra dáng một vị tướng hay một vị quan cai trị cấp tỉnh”. Vì Chúa Trịnh đặt quá nhiều tin tưởng vào đám hoạn quan vô dụng và như vậy thường phải đánh đổi quá nhiều điều trái ngược với sự tốt đẹp của chính sách chung, thậm chí đôi lúc phải muối mặt chỉ để đổi lấy một số lợi ích nho nhỏ của đám người này.
Ngược lại, trong số này cũng có vài hoạn quan rất thành công trong phủ Chúa Trịnh được sử sách lưu lại, nổi bật nhất là 3 đại quan: Ong-Ja-Tu-Le, Ong-Ja-Ta-Foe-Bay và Ong-Ja-How-Foe-Tack (người nước ngoài thường gọi quan theo chức danh: Ong -Ja là Ông già). 
Hoạn quan Ong-Ja-Tu-Le, hiện qua tài liệu lịch sử đã xác định được và ông này được mô tả khá kỹ trong những văn bản của công ty Đông Ấn Hà Lan - đó chính là ông già Tư Lễ, tức hoạn quan Hoàng Nhân Dũng. Sách Mô tả Vương quốc Đàng Ngoài của tác giả Samuel Baron viết: “Ông này làm đến chức Tư lễ giám nhưng sau đó bị xử tử do khép tội âm mưu chống lại Chúa. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: ‘Năm 1653, Nhân Dũng là tên hoạn quan được yêu, được làm đến chức Tư lễ giám, thiếu bảo, tước quận công, được ban họ tên là Trịnh Lãm. Quyền lộc quá to nên ngày càng kiêu căng phóng túng, ngầm mưu với thủ hạ là Trần Nhân Liễn nuôi giấu người có yêu thuật là Tuyên Đức để xuống loạn. Việc bị phát giác, đưa xuống triều thần xét tội. Nhân Dũng bị chém bêu đầu, bọn Nhân Liễn, Tuyên Đức đều bị lăng trì, thị chúng”.

Vì sao Chúa Trịnh không thích làm vua?

 Vì sao Chúa Trịnh không thích làm vua?

Dù nắm trong tay mọi quyền hành gần như tuyệt đối nhưng Chúa Trịnh vẫn không muốn lên kế vị ngai vàng. Ngược lại, Chúa cho dựng lên nhà vua chỉ đứng trên danh nghĩa.
Vua Lê thiết triều năm 1685 /// ẢNH: T.L của Samuel Baron
Vua Lê thiết triều năm 1685
ẢNH: T.L CỦA SAMUEL BARON
Tại phủ Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài chỉ mới nghe kể sơ qua thôi, hẳn mọi người đều kinh hoàng trước quyền sinh sát của ông nhưng vì sao Chúa Trịnh vẫn không thích làm Vua? Thắc mắc này của người đời lâu nay được tác giả Samuel Baron giải thích khá rõ trong cuốn Mô tả Vương quốc Đàng Ngoài (do Omega và NXB Khoa học Xã hội ấn hành): “Không phải Chúa không ham quyền lực hay ông ta tôn trọng pháp luật gì đâu, mà bởi ông ta đã nghĩ nát óc về hai lý do sau để không lên làm Vua: Thứ nhất, nếu lên ngôi ông sẽ bị coi là tiếm quyền, bị cả nước ghét và thù oán, nhất là sự chống lại của họ Nguyễn – người sẽ có danh nghĩa chính đáng để tiến đánh dòng họ Chúa Trịnh. Thứ hai, Chúa nhận thức được triều đình Trung Hoa sẽ chống lại ông ta một khi biết tin có kẻ không thuộc dòng dõi vua Lê cướp lấy ngai vàng. Như thế chẳng khác nào tự rước họa lớn vào thân và tự hủy diệt bản thân”.
Vì sao Chúa Trịnh không thích làm vua? - ảnh 1

Tranh xưa vẽ cảnh ăn chơi trong phủ Chúa Trịnh

ẢNH: T. L

Hoàng đế vô thực

Chính vì vậy để an toàn, Chúa Trịnh đã dựng nên một hoàng tử thuộc dòng dõi vua Lê lên làm Vua nhưng thực tế quyền hành đều do Chúa nắm, từ việc quyết định chiến tranh hay hòa bình, tự ra luật và hủy luật, có quyền lên án hoặc ân xá phạm nhân, phong chức tước hoặc bãi nhiệm quan tòa, tướng lĩnh quân đội, thu thuế, ra lệnh phạt… theo ý của Chúa. Bởi thế mà người châu Âu gọi Chúa là Vua hay Vương (King), còn Vua thì được gọi bằng một danh xưng nghe to tát là Hoàng đế nhưng vô thực.
Tác giả Samuel Baron kể lại: ‘Vua Lê chỉ buông rèm trong cung cấm và chẳng ai bén mảng đến ngoài mấy mật thám mà phủ Chúa phái sang. Vua cũng chẳng được ra ngoài cung cấm nhiều hơn một lần trong năm, thường vào dịp lễ, tết. Toàn bộ công việc còn lại chỉ chuẩn y những gì Chúa muốn và thực hiện điều đó thông qua những lệnh chỉ cho đúng tính chất lễ nghi. Đối đầu với Chúa, dù là việc nhỏ nhất cũng dễ mang họa vào thân. Vì vậy, mặc dù dân rất kính trọng Vua nhưng họ lại sợ Chúa – người luôn được xu nịnh vì ông có quyền lực tối thượng trong tay”.
Vì vậy mà Chúa Trịnh thường luôn được ca tụng là nhân vật giữ gìn ngôi báu của hoàng gia cũng như luật pháp và thể chế của vương quốc Đàng Ngoài, nhưng thực ra Chúa Trịnh đã lột sạch quyền lực của vua Lê, điều này sách đã dẫn của Samuel Baron viết: “Tôi nghĩ chuyện này chẳng có ở xứ nào khác, cũng chẳng xảy ra trong lịch sử của bất kỳ một dân tộc nào. Chính trị gia ở nước khác nghe chuyện kỳ lạ này chắc khó có thể tin được”.
Vì sao Chúa Trịnh không thích làm vua? - ảnh 2

Một số trò chơi dân gian của người Đàng Ngoài trong dịp lễ, tết

ẢNH: T.L CỦA SAMUEL BARON

Còn một điều khá nghịch lý là dù mang danh nghĩa Vua của Đàng Ngoài nhưng người kế vị và chính bản thân nhà vua cũng không hề hay biết người con nào sẽ kế vị mình nếu như nhà vua có nhiều con trai. Tác giả Samuel Baron tiết lộ: "Thậm chí nếu nhà vua chỉ có một con trai, chưa chắc người con đó sẽ được kế vị, bởi Chúa mới là người quyết định chọn người nào ông ưa, miễn là thuộc dòng dõi hoàng tộc.Tuy nhiên Chúa cũng hiếm khi gạt bỏ Thái tử khỏi ngai vàng, trừ khi vì lý do trọng đại hoặc do những động cơ cấp bách về chính trị”.
Ở xứ Đàng Ngoài chỉ có Vua và Chúa mới được truyền lại tước hiệu cho con cháu đến đời thứ ba, còn những quan lại khác phải mưu cầu quyền tước qua chinh chiến, qua học hành hoặc mua bằng tiền nhưng chỉ có giá trị trong mỗi đời họ. Lọt qua "cửa ải" thì mới mong có được dịp trung thành với Chúa Trịnh, để nhận được sự ban phát bổng lộc của ông và đặc biệt là địa vị nào đó trong xã hội.

Lễ Tịch điền vua phải đi... cày ruộng

 Lễ Tịch điền ở nước ta bắt buộc vua phải đi... cày ruộng

Sau gần 100 năm ngừng tổ chức, Lễ Tịch điền mỗi năm chỉ một lần mà trước đây không có Vua nào dám vắng mặt đã được khôi phục tại Đọi Sơn (Hà Nam) vào năm 2009, với mong ước mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu.
Chuẩn bị cho Lễ Tịch điền xưa /// ẢNH: T.L
Chuẩn bị cho Lễ Tịch điền xưa
ẢNH: T.L
Theo Đại Việt sử ký toàn thư thì vào đầu xuân năm 987, vua Lê Đại Hành làm Lễ Tịch điền, cày ruộng để khuyến khích dân chúng trồng trọt sản xuất và đó là Lễ Tịch điền đầu tiên của nước ta được sử sách ghi lại. Đến thời nhà Lý, lễ này được tổ chức long trọng hơn và là một trong những ngày hội chính của triều đình vào mùa xuân. Đến đời Trần, do nạn giặc Nguyên nên Lễ Tịch điền không mấy quan trọng như trước. Tuy nhiên, khi có điều kiện, vua vẫn đích thân làm lễ. Đến các thời nhà Hồ, thì hầu như phong tục này không còn được giữ.
Sau này, từ khi khôi phục lại các nhiệm kỳ Chủ tịch nước ta cũng đã về Đọi Sơn thực hiện nghi thức Lễ Tịch điền vào mùng 5 - 7 tháng Giêng: Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết (năm 2010), Chủ tịch nước Trương Tấn Sang (2012), Chủ tịch nước Trần Đại Quang (2017).
Lễ Tịch điền ở nước ta bắt buộc vua phải đi... cày ruộng - ảnh 1

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thực hiện Nghi Lễ Tịch điền ở Đọi Sơn (Hà Nam) năm 2012

ẢNH: T.L

Mỗi năm, vua phải thân chinh đi cày ruộng một lần

Nói về Lễ Tịch điền vào thế kỷ 17, cuốn Mô tả Vương quốc Đàng Ngoài của tác giả Samuel Baron (do Omega và NXB KHXH ấn hành) cho biết: “Vua hiếm khi ra khỏi cung cấm để du ngoạn. Chỉ mỗi năm một lần (tất nhiên không kể những dịp Chúa đưa Vua ra khỏi cung do có việc liên quan). Vua chỉ xuất hiện trước công chúng trong ngày lễ long trọng vào một ngày đẹp trời trong dịp năm mới. Dịp Lễ Tịch điền từ sáng sớm Vua, Chúa, Thái tử và các vị đại quan đi đến địa điểm làm lễ nằm ở phía Nam thành phố, nơi dựng lên cho mỗi dịp lễ này. Vua dừng lại ở bên ngoài và chờ cho đến khi trời sáng. Trong lúc chờ đợi, vua tắm rửa sạch sẽ và mặc lễ phục mới tinh. Khi tiếng súng thần công nổ vang lên, Chúa, Thái tử và các đại quan tiến về phía vua để chúc tụng trong không khí long trọng. Sau đó vua tiến hành cầu nguyện thần linh với sự thành kính theo lối riêng của người xứ Đàng Ngoài. Khấn xong, vua bước ra ngồi lên kiệu sơn son thếp vàng đặt ở ngoài sân".
Lễ Tịch điền ở nước ta bắt buộc vua phải đi... cày ruộng - ảnh 2

Sau gần 100 năm ngừng tổ chức, lễ tịch điền được khôi phục tại Đọi Sơn (Hà Nam) từ năm 2009 với mong ước mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu

ẢNH: T.L

Sách đã dẫn miêu tả: “Một thoáng nghỉ ngơi, người ta dâng lên vua một chiếc cày đóng trâu vào để sẵn sàng cử hành – hệt như cách người dân vẫn cày hằng ngày. Vua nắm lấy tay cày cầu phúc lành cho vương quốc và bắt đầu dạy cho dân chúng bằng hành động tượng trưng này, rằng không được ai xấu hổ khi mình là người cày ruộng, rằng lao động chuyên cần, biết lo liệu tính toán, chịu thương chịu khó làm ăn thì sẽ được đền đáp xứng đáng”.
Tiếp đó, thêm một lễ gọi là Chén bát (có thể lễ cúng cơm mới, xôi mới – người dịch) được tổ chức, mọi người bày lên bàn được phủ sơn một số bát đựng thức ăn có màu sắc khác nhau, bịt kín bằng giấy sạch gắn hồ để đảm bảo bí mật. Vua nhặt lên một chiếc bát và mở ra ngay. Nếu bát đựng cơm màu vàng thì người dân vui mừng tột độ (theo niềm tin) là năm này sẽ mùa màng bội thu, nếu vua chọn được bát cơm trắng sẽ mùa vụ tốt tươi, còn gặp phải bát nước thì vụ mùa bình thường. Tệ nhất mà chọn phải bát rau thì coi như gặp điềm gở: đói kém và chết chóc.
Sau phần này, Lễ Tịch điền sẽ chấm dứt. Tiếng súng thần công lại vang lên trong lúc vua bước vào kiệu để cho 8 lính khiêng đi qua các con phố để về lại cung. Văn quan cứ thế mặc áo thụng đi chân đất theo sau. Còn đội cận vệ của Chúa túc trực theo canh gác gồm ngựa, voi, tiếng trống đánh, tiếng gõ thanh la, cồng vang dậy, cờ đủ màu bay phất phới.
Lễ Tịch điền ở nước ta bắt buộc vua phải đi... cày ruộng - ảnh 3

Vua Lê trên đường đi cử hành Lễ Tịch điền

ẢNH: QUỲNH TRÂN CHỤP LẠI TỪ TRANH VẼ TRONG SÁCH MÔ TẢ VƯƠNG QUỐC ĐÀNG NGOÀI

Ngồi trên kiệu, vua tỏ tấm lòng hào hiệp bằng hành động rải những đồng tiền đồng trên đường ngài đi về cung, còn chúa thì cũng ăn mặc sang trọng cưỡi con voi to đủng đỉnh ngay phía sau.
“Đội lính gác với khoảng 3.000 hoặc 4.000 chiến mã, khoảng 100 hoặc 150 chiến tượng trang hoàng lộng lẫy, kèm theo đó không dưới 10.000 quân sĩ diện những đồng phục áo mũ rất đẹp làm từ loại vải tốt của châu Âu”, tác giả cuốn Mô tả Vương quốc Đàng Ngoài kể lại. Điều đó cho thấy sự hoành tráng và quan trọng của Lễ Tịch điền xưa - mà Vua luôn đóng vai trò trung tâm - ở nước ta vào thế kỷ 17.

Chuyện đám tang xa hoa của Chúa ở Đàng Ngoài

 'Bật mí' chuyện đám tang xa hoa của Chúa ở Đàng Ngoài

Không chỉ có cuộc sống vương giả nơi trần thế mà khi chết, đám tang của Chúa ở Đàng Ngoài cũng diễn ra xa hoa, thậm chí vượt cả đám tang dành cho vua. Điều này được tiết lộ qua sách Mô tả vương quốc Đàng Ngoài (Omega và NXB Khoa học Xã hội).
Cuộc sống ở Đàng Ngoài qua tranh vẽ xưa /// ẢNH: T.L
Cuộc sống ở Đàng Ngoài qua tranh vẽ xưa
ẢNH: T.L
Để tránh cho vương quốc Đàng Ngoài, nhất là Kẻ Chợ lâm vào thế nguy hiểm và hoảng loạn, ngay sau khi Chúa qua đời thì thông tin bí mật này phải được giữ kín, không được để lộ ra ngoài biết trong vòng 3 – 4 ngày. Sách Mô tả vương quốc Đàng Ngoài của tác giả Samuel Baron kể: “Việc đầu tiên người ta làm cho vị Chúa quá cố là tắm rửa cho thi hài được sạch sẽ, mặc cho ông 7 bộ áo đẹp nhất, dâng lên cho ông thức ăn, đồ uống thịnh soạn nhất. Kế đó, Thái tử kế vị cùng các anh chị em của mình vào để khóc than thảm thiết, lạy 5 lần, hỏi han xem ông cần gì để họ biết mà chu cấp...”.
 'Bật mí' chuyện đám tang xa hoa của Chúa ở Đàng Ngoài - ảnh 1

Phủ chúa Trịnh thế kỷ 17

ẢNH: T.L

Các quan lại nhân dịp này cũng bày tỏ lòng tôn kính với Chúa ở Đàng Ngoài. Họ được phép vào làm những thủ tục phúng viếng, Thái tử kế vị đứng ra đáp lễ. Và cũng chỉ những người này được phép vào chỗ đặt thi hài của Chúa chứ ngay cả họ hàng xa cũng không được phép đến gần. Tác giả Samuel Baron tiết lộ thêm: “Sau đó, họ bỏ vào miệng người quá cố những mẩu vàng, bạc, ngọc trai. Thi hài của vị Chúa quá cố được quàn vào một cỗ áo quan lộng lẫy làm từ loại gỗ tốt nhất, được sơn phủ lớp dày và đẹp. Phía dưới đáy áo quan người ta rải một lớp bột gạo (rang) và hạt dầu thơm để chống mùi hôi thối, sau đó trải một lớp thảm lên rồi mới đặt thi hài người chết. Liệm xong, người ta đặt cỗ quan tài ở một phòng khác, đèn nến cháy suốt ngày đêm, cơm canh được dọn lên ba bữa một ngày, vào lúc 5 giờ hoặc 6 giờ sáng, 12 giờ trưa và 5 giờ chiều. Mọi người vào lễ, viếng và chăm sóc Chúa chu đáo và công việc cứ lặp đi lặp lại hằng ngày cho đến khi người ta đem thi hài người quá cố đi chôn cất”.
Khi đưa Chúa ở Đàng Ngoài đã mất về quê, việc đầu tiên, các quan lại chỉ huy đội quân binh mặc lễ phục, mang theo vũ khí dẫn đường trước chiếc quan tài của Chúa quá cố. Theo sau là hai người lực lưỡng cầm khiên, có đeo mặt nạ như dọa nạt và xua đuổi ma quỷ. Phía sau là đoàn tùy tùng là những đội quân nhạc gồm kèn, trống, cồng… phối lên nhiều bản tang tóc đầy não ruột. Đoàn cờ trướng nối tiếp với các danh hiệu và chiến công mà Chúa ở Đàng Ngoài đạt được khi còn sống, nhiều lời ngợi ca còn được thêu bằng chữ vàng, đóng vào khung trang trọng, có thể đến 20 - 30 lính vệ khiêng đi theo.
 'Bật mí' chuyện đám tang xa hoa của Chúa ở Đàng Ngoài - ảnh 2

Cảnh bến Kẻ Chợ xưa

ẢNH: T.L

Sự xa hoa của đám tang của Chúa ở Đàng Ngoài còn thể hiện ở số lượng thuyền tham dự đám tang khoảng 50 hoặc 60 chiếc thuyền. Tất cả rời bến Kẻ Chợ khi mọi công đoạn xong xuôi để đi về Thanh Hóa, nơi quê hương bản quán của dòng họ nhà Chúa vừa qua đời. “Chuyến đi kéo dài từ 5 - 6 ngày. Chiếc thuyền chở áo quan được kéo bởi 5 hoặc 6 thuyền khác. Cả đoàn người lầm lũi đi trong im lặng. Đến địa phận các tỉnh, họ dừng lại để quan cai trị tỉnh đó làm lễ tế và dâng các lễ vật: trâu, bò, lợn. Khi đoàn tang lễ về đến quê nhà của Chúa, họ còn phải cử hành rất nhiều lễ nghi theo phong tục của xứ này. Nơi chôn cất của Chúa luôn được giữ kín, rất ít người biết và chỉ những ai đã thề độc là trung thành tuyệt đối với sứ mệnh này thì mới biết cụ thể”, sách Mô tả vương quốc Đàng Ngoài tiết lộ cụ thể.

Hé lộ chuyện về phi tần, thị nữ của vua Tự Đức

 Hé lộ chuyện về phi tần, thị nữ của vua Tự Đức trong cung đình Huế

Lâu nay, chuyện "thâm cung bí sử” của nhà vua thường chỉ được biết qua sách sử. Tuy nhiên lần đầu tiên, Charles-Édouard Hocquard - một thầy thuốc quân y kiêm nghệ sĩ nhiếp ảnh người Pháp đã hé lộ nhiều chuyện về phi tần, thị nữ của vua Tự Đức.
Một phi tần trong cung đình Huế /// Ảnh: Charles-Édouard Hocquard
Một phi tần trong cung đình Huế
ẢNH: CHARLES-ÉDOUARD HOCQUARD
Nếu nói tới phi tần, thị nữ của nhà vua thì nhiều vô kể. Cuốn sách Một chiến dịch ở Bắc Kỳ (Omega và NXB Đà Nẵng ấn hành), kể: “Tự Đức có một trăm lẻ tư bà phi tần. Phi tần được chia làm chín bậc, mỗi bậc có một danh xưng khác; họ ăn mặc và hưởng bổng lộc theo quy định của triều đình tùy vào thứ bậc của họ. Bổng lộc này không đáng kể lắm: Hoàng hậu mỗi năm nhận một nghìn xâu tiền, tương đương khoảng 800 franc, cùng hai trăm năm mươi đấu gạo màu, năm mươi đấu gạo trắng và sáu mươi súc lụa để may xiêm y; các bà nhất giai phi thì chỉ có năm trăm xâu tiền, hai trăm lẻ năm đấu gạo màu, bốn mươi lăm đấu gạo trắng và bốn mươi tám súc lụa; các bà cửu giai tài nhân thì chỉ được nhận phần lương bổng ít ỏi gồm năm mươi ba xâu tiền, một trăm tám mươi đấu gạo màu, năm mươi sáu đấu gạo trắng và mười hai súc lụa”.
Hé lộ chuyện về phi tần, thị nữ của vua Tự Đức trong cung đình Huế - ảnh 1

Điện Càn Thành - Palais du Musée

Hé lộ chuyện về phi tần, thị nữ của vua Tự Đức trong cung đình Huế - ảnh 2

Một trong các cửa sơn son ở hậu cung triều đình Huế

ẢNH: CHARLES-ÉDOUARD HOCQUARD

Đời sống hậu cung phức tạp

Đời sống của phi tần, thị nữ trong cung cũng nhiều vấn đề phức tạp chứ không hề đơn giản, tác giả Charles-Édouard Hocquard hé lộ thêm: “Mỗi phi tần đều có quyền đem vào điện một số hầu gái tùy theo cấp bậc của phi tần đó và phải tự bỏ tiền ra trả cho họ. Hoàng hậu có thể có mười hai hầu gái và tài nhân cấp thấp nhất có ba hầu gái. Luật của vương quốc không giới hạn số lượng phụ nữ trong hậu cung nhưng những người hầu gái này phải làm hết mọi việc. Họ lao động dưới sự giám sát của những bà già hơn, các bà này được chia làm sáu bậc. Dưới thời Tự Đức, những nữ giám sát này có đến sáu mươi người. Họ ăn lương triều đình và mặc y phục giống với y phục các phu nhân của quan đại thần; chính họ là người chỉ định thị nữ trong hậu cung mỗi ngày đi phục vụ nhà vua và thái hậu; họ cũng điều hành các nữ công có nhiệm vụ chèo trên long thuyền và canh gác xung quanh những phòng ốc đặc biệt của nhà vua. Nữ công có tới ba trăm người chia thành sáu bậc, họ ở trong một tòa nhà nằm cạnh hậu cung; đồng phục của họ gồm quần dài, váy và khăn đầu màu lục”.
Hé lộ chuyện về phi tần, thị nữ của vua Tự Đức trong cung đình Huế - ảnh 3

Đại điện trong kinh thành Huế

ẢNH: CHARLES-ÉDOUARD HOCQUARD

Dân gian thường nói "sướng như vua" cũng có lý do là vì vậy. "Mỗi ngày hoàng thượng được một đội ngũ gồm mười lăm người vợ và ba mươi a hoàn phục vụ; những a hoàn này cầm kiếm gác tất cả lối ra vào tẩm điện. Những người khác thì hầu hạ các việc thường ngày của vua; năm người trong số thị nữ luôn ở cạnh để phục vụ ngài, và mỗi ngày lại đổi một kíp. Vì vậy mà số thị nữ hậu cung lên đến 579 người, lại thêm 455 a hoàn nữa, tất cả đều ăn lương triều đình. Một con số không hề nhỏ", trích từ sách đã dẫn.
Theo Charles-Édouard Hocquard, phi tần của nhà vua được tuyển theo hai cách: hoặc là con gái của quan lại triều đình và những phú hộ muốn được vẻ vang, ân thưởng, đem những cô con gái xinh đẹp nhất dâng lên nhà vua; hoặc con cái của dân thường do hoàng hậu mua về để làm diễn viên nhưng sắc đẹp của họ động lòng nhà vua. Tuy nhiên, kiếp người trong hậu cung cũng thật sự buồn. “Những người phụ nữ này gần như bị cách ly với thế giới bên ngoài, thậm chí không thể trở về nhà cha mẹ đẻ; người mẹ thỉnh thoảng còn được cho phép tới thăm con trong hoàng cung”, tác giả cho biết.
Đó là khi hoàn toàn khỏe mạnh, chứ nếu chẳng may một phi tần của vua nhiễm bệnh nặng thì sẽ bị cách ly trong phòng thuốc của hậu cung để thái y tới khám và đặt dưới sự giám sát của một hoạn quan. Gặp phải căn bệnh vô phương cứu chữa thì có thể bị gửi trả về nhà. Còn trường hợp đột tử, sẽ bị đem xác ra khỏi hoàng thành qua bờ tường nhờ một dây tời. “Không bao giờ được đưa một xác chết qua cánh cổng chỉ dành riêng cho vua chúa. Và kể cả vua chúa cũng không phải là ngoại lệ; khi nhà vua băng hà, quan tài sẽ được đẩy qua một lỗ hổng đục trên tường, sau này sẽ trám lại", Charles-Édouard Hocquard viết.
Hé lộ chuyện về phi tần, thị nữ của vua Tự Đức trong cung đình Huế - ảnh 4

Biệt điện của nhà vua

ẢNH: CHARLES-ÉDOUARD HOCQUARD


Điện của Thái hậu, mẹ vua Tự Đức không nằm xa hậu cung là mấy. Thái hậu rất có thế lực nên bà được phục vụ bởi một đội ngũ đặc biệt và mỗi ngày lại có một công chúa cùng ba phi đến vấn an bà. Sách đã dẫn mô tả chi tiết: “Triều đình mỗi năm cấp cho bà mười nghìn xâu tiền, một nghìn đấu gạo; cứ mười năm thì bổng lộc này lại tăng thêm năm nghìn xâu tiền. Tự Đức rất hiếu thảo với mẹ, nhà vua tới thăm thái hậu mỗi ngày, biếu bà vô số quà cáp, trò truyện ân cần và thường xin bà lời khuyên. Thái hậu dành thời gian để dạy dỗ con hát phục vụ cho nhà vua; thỉnh thoảng bà đi dạo cùng nhà vua..."
Khi nhà vua băng hà, phi tần cũng sẽ có hai số phận: Những ai thuộc cấp bậc cao nhất rút về ở trong các cung điện cạnh lăng tẩm nhà vua, và tại nơi đó, dưới sự giám sát của các hoạn quan, họ hy sinh nốt phần đời còn lại để lo hương khói cho người chồng hoàng gia. Còn những người vợ thuộc cấp bậc thấp thì được trả về nhà cho cha mẹ, nhưng dù có xinh đẹp, khéo léo đến đâu họ cũng chỉ có thể tái hôn với thường dân. Do theo quy định thì quan lại bị cấm lấy vợ là phi tần từ hậu cung ra và sự cấm đoán này bắt nguồn từ sự tôn trọng đối với vị vua quá cố, nên cuộc đời các phi tần phần lớn cuối đời đều buồn và cô độc.

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Laundry Detergent Coupons